Chương 1. Một số vấn đề lý luận về kiểm soát vốn nhà nước tại công ty mẹ - công ty con. Pháp luật về kiểm soát vốn nhà nước tại công ty mẹ - công ty con. Thực trạng và bất cập.
Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn nhà nước tại công ty mẹ - công ty con. 9 z LỜI CẢM ƠN Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội – người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu, xây dựng và hoàn thành đề tài này. 10 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT VỐN NHÀ NƢỚC TẠI CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 1. Một số khái niệm 1.
Vốn nhà nước Khái quát về vốn nhà nước, Luật Đầu tư năm 2005 đưa ra định nghĩa: “Vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư khác của nhà nước” [3, K10Đ3]. Các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước cần được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận bao gồm các dự án sử dụng vốn nhà nước từ các nguồn sau đây [11, K1Đ58]: - Vốn ngân sách nhà nước; - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; - Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; - Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; - Vốn đầu tư từ SCIC. Tuy nhiên, định nghĩa và cách diễn giải này chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư, liên quan đến các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước. Một định nghĩa liên quan trực tiếp và gần hơn với phạm vi nghiên cứu của đề tài là định nghĩa trong Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ban hành kèm theo Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ.
Theo quy chế này, “vốn do nhà nước đầu tư tại công ty nhà nước” là vốn cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho công ty nhà nước khi thành lập, trong quá 11 z trình hoạt động kinh doanh; vốn nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; giá trị các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng; tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê công ty nhà nước được hạch toán tăng vốn nhà nước tại công ty nhà nước; vốn bổ sung từ lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng đất và các khoản khác được tính vào vốn nhà nước theo quy định của pháp luật [14, K3Đ2]. Tuy nhiên, khi đề cập đến khái niệm vốn nhà nước, cụ thể hơn là số vốn nhà nước đầu tư vào các công ty mẹ - công ty con, liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cần làm rõ thêm khái niệm về vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của nhà nước trong các công ty mẹ - công ty con. Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định, được đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được ghi vào điều lệ công ty [4, K6Đ4]. Vốn điều lệ của công ty nhà nước là số vốn nhà nước đầu tư vào công ty và ghi tại Điều lệ công ty [1, K10Đ3].
Vốn điều lệ chính là vốn cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho công ty khi mới thành lập. Vốn điều lệ phải được đăng ký với cơ quan nhà nước theo quy định pháp luật, ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và điều lệ công ty. Đây là một thuật ngữ pháp lý sử dụng trong pháp luật về doanh nghiệp. Nhà nước – chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ.
Vốn chủ sở hữu là thuật ngữ trong hoạt động kế toán và sử dụng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn góp của chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại sau thuế để bổ sung vốn, các quỹ (quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển…), lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá, chênh lệch đánh giá lại tài sản và 12 z thặng dư vốn cổ phần (chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu và giá thực tế phát hành – áp dụng với công ty cổ phần) [29]. Vốn chủ sở hữu và nợ là hai nguồn vốn cơ bản cho hoạt động của doanh nghiệp. Nhìn vào hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu) có thể thấy quy mô tài chính của doanh nghiệp.
Nếu hệ số này càng nhỏ nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn tài chính và ngược lại. Khi công ty mới thành lập, chưa có hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu: vốn điều lệ bằng vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào hoạt động kinh doanh và phát sinh lãi, lỗ thì vốn chủ sở hữu thay đổi theo. Thông thường, nếu công ty hoạt động có lãi thì vốn chủ sở hữu luôn lớn hơn vốn điều lệ (vì có phần bổ sung của lợi nhuận, các quỹ…).
Cũng có trường hợp vốn điều lệ lớn hơn vốn chủ sở hữu do: chủ sở hữu chưa góp đủ vốn; vốn chủ sở hữu teo đi do lỗ trong kinh doanh. Do tính chất và sự khác biệt về bản chất giữa khái niệm vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu nên trong vấn đề kiểm soát vốn nhà nước tại các công ty mẹ - công ty con, cần quan tâm đến cả vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu, đặc biệt là vốn chủ sở hữu vì trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty mẹ - công ty con, việc kiểm soát vốn nhà nước chỉ có thể phản ánh đầy đủ qua việc bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước.2 Công ty mẹ - công ty con Theo từ điển luật học của Incisive Media's Law, công ty mẹ là công ty nắm giữ cổ phần của một số công ty khác và do vậy nắm quyền kiểm soát việc điều hành và chính sách hoạt động của các công ty này. Định nghĩa này đưa ra hai điểm nổi bật của công ty mẹ. Thứ nhất, công ty mẹ phải nắm giữ cổ phần của một số công ty.
Thứ hai, cơ sở của việc công 13 z ty mẹ kiểm soát các công ty con là dựa trên việc nắm giữ cổ phiếu của các công ty con này. Ở các nước phát triển, các công ty được công ty khác thành lập trên cơ sở lấy một phần tài sản của công ty đó thì được phân loại thành công ty phụ thuộc (affiliate) và công ty con (subsidiary). Ở Mỹ, quốc gia mà luật công ty phát triển nhất thế giới thì: affiliate là một công ty B do công ty A trực tiếp hay gián tiếp làm chủ, kiểm soát, nắm giữ quyền biểu quyết từ 5% trở lên số cổ phần của nó đã được phát hành; subsidiary là một công ty B mà 95% hay hơn số cổ phiếu có quyền biểu quyết đã phát hành của nó do công ty A nắm [38]. Theo Luật công ty của Anh năm 1985 [36], công ty mẹ được hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50% vốn) ở công ty khác (công ty con).
Tuy nhiên, theo tu chính án năm 1989 để phù hợp với “Hướng dẫn chính thức lần thứ 7 về Luật công ty” của Cộng đồng châu Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi: (1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B; (2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành viên HĐQT của B; (3) A có quyền quyết định về chính sách tài chính và sản xuất kinh doanh của B bằng sự thỏa thuận chính thức, hợp đồng; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc (5) A có quyền lợi tham gia điều hành (được hiểu là nắm giữ từ 20% cổ phần) và trên thực tế thực hiện quyền chi phối đối với B hoặc A và B có cùng một cơ chế quản lý thống nhất. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam thì: 14 z Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó; - Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả các thành viên HĐQT, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty đó; - Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam [28]: một công ty được coi là công ty mẹ của một công ty khác nếu có quyền kiểm soát thông qua việc chi phối các chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của công ty này. Công ty mẹ thường được xem là có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động trong các trường hợp sau đây: - Công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết trực tiếp hoặc gián tiếp ở công ty con; - Công ty mẹ có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm hoặc bãi miễn đa số các thành viên HĐQT, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty con; - Công ty mẹ có quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của HĐQT hoặc cấp quản lý tương đương; - Công ty mẹ có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty con; - Các nhà đầu tư khác thoả thuận dành cho công ty mẹ hơn 50% quyền biểu quyết; - Công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động theo quy chế thoả thuận.
Việc xác định một công ty có phải là công ty mẹ hay không phải dựa trên việc xét xem công ty đó có kiểm soát thông qua việc chi phối các chính sách 15 z tài chính và hoạt động của một công ty khác hay không chứ không chỉ xét tới hình thức pháp lý, hay tên gọi của nó. Như vậy, không có một định nghĩa nào được chấp nhận chung đối với khái niệm: công ty mẹ - công ty con.