Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN TREO VÀ CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm, nội dung, quy trình, vai trò của kiểm sát thi hành án treo và cải tạo không giam giữ của viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm kiểm sát thi hành án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Khái niệm thi hành án treo Chương V Bộ luật hình sự năm 1999 đã định nghĩa về hình phạt, mục đích của hình phạt cũng như các loại hình phạt chính, hình phạt bổ sung được áp dụng trong Bộ luật hình sự Việt Nam.
Bên cạnh việc áp dụng các hình phạt, cũng như một số quốc gia khác Việt Nam áp dụng chế định “án treo” được quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 qui định: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”[10]. Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội nói về vấn đề án treo: Là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, án treo thể hiện tính nhân đạo của Luật Hình sự Việt Nam,có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên [33]. Theo Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” nêu rõ chỉ cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây: 8 - Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.
- Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; - Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên; - Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm [ 7]. Ở Việt Nam, tính đến đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa nào mang tính chính thống về án treo, tuy nhiên có thể thấy bản chất của án treo là: Thứ nhất: Án treo không phải là hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù khi người bị kết án có đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật hình sự và được hội đồng xét xử cho họ được hưởng. Thứ hai: Người được hưởng án treo sẽ phải chịu thời gian thử thách từ một đến năm năm.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải chịu sự giám sát, giáo dục của UBND xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và họ được hưởng một số quyền và phải có một số nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Thứ ba: Trong thời gian thử thách, nếu người đó phạm tội mới và bị xét xử thì biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù đương nhiên bị xóa bỏ và bản án đó sẽ được hội đồng xét xử tổng hợp với bản án do phạm tội trong thời gian thử thách. Pháp luật Việt Nam quy định Tòa án là cơ quan, nhân danh Nhà nước xét xử:“Bằng hoạt động của mình Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống 9 xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác” [13]. Nhưng những phán quyết của Tòa án chỉ có ý nghĩa khi nó được đưa vào thi hành trên thực tế, đó chính là hoạt động thi hành án.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “thi hành” là: “Thực hiện điều đã chính thức quyết định” [17]. Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Thi hành án hình sự là việc đưa các bản án, quyết định về hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế, bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh. Thi hành án treo mang đầy đủ các đặc điểm của thi hành án hình sự và nó là một bộ phận cấu thành nên công tác thi hành án hình sự. Tất cả các chủ thể tham gia công tác này phải tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự.
Tuy nhiên khác với việc thi hành các hình phạt khác, thi hành án treo có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất: Đặc trưng cơ bản của thi hành án treo chính là thời gian thử thách, qua đó người bị kết án phải chấp hành các điều kiện do pháp luật quy định. Thời gian thử thách theo luật định hiện hành ngắn nhất là 01 năm và dài nhất là 05 năm, do hội đồng xét xử ấn định trên cơ sở như sau: - Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới một năm và không được quá năm năm. - Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành, nhưng không được dưới một năm và không được quá năm năm.
- Trong trường hợp đặc biệt thì Tòa án có thể ấn định thời gian ngắn hơn mức hướng dẫn …(nêu trên), nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án [7]. Thứ hai: Trong suốt thời gian thử thách, người phải thi hành án treo luôn có nguy cơ không được miễn chấp hành hình phạt tù đã tuyên khi phạm tội mới trong thời gian thử thách, tòa án quyết định buộc họ phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự. 10 Như vậy người được hưởng án treo trong trường hợp này phải quay lại trình tự thủ tục thi hành án hình sự từ đầu. Thứ ba: Trong khi thi hành án treo, người bị kết án không phải cách ly khỏi đời sống xã hội, họ được tạo điều kiện trong việc lao động, học tập.
Đối với người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, chiến sỹ, công nhân quốc phòng, công nhân nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà mình đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật. Nếu người được hưởng án treo không thuộc trường hợp trên thì được UBND cấp xã tạo điều kiện để người đó tìm việc làm. Còn đối với người được hưởng án treo được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở tiếp nhận đó và họ vẫn được hưởng mọi chế độ ưu đãi về chế độ chính sách theo quy định của pháp luật. Thứ tư: Trách nhiệm trong giám sát giáo dục người thi hành án treo được giao cho UBND cấp xã theo bản án đã tuyên.
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: thi hành án treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật thi hành án hình sự giám sát, giáo dục người bị phạt tù cho hưởng án treo trong thời gian thử thách [34, tr. Khái niệm thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ Theo Bộ luật Hình sự 1985 (Điều 21 và Điều 24) thì hình phạt cải tạo không giam giữ đã được ghi nhận là hình phạt chính nằm giữa hình phạt tù và phạt tiền. Hình phạt cải tạo không giam giữ giai đoạn này được đề cập đến gồm hai phần tách biệt bao gồm: cải tạo không giam giữ và cải tạo ở các đơn vị kỷ luật của quân đội với quân nhân phạm tội. Hình phạt này được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng và những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định phạt giam nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách 11 nhiệm hình sự nên được chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn.Hình phạt cải tạo không giam giữ có thời hạn từ sáu tháng đến hai năm.
- Về điều kiện áp dụng: Bộ luật Hình sự 1985 quy định chỉ áp dụng cải tạo không giam giữ với người phạm tội ít nghiêm trọng, kèm theo một số điều kiện như có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không phải là người tái phạm về tội cố ý, bị cáo có căn cước, lý lịch rõ ràng, có nơi thường trú. - Người bị kết án được Tòa án giao cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục. Người bị kết án phải thực hiện các nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ. Nghĩa vụ khấu trừ thu nhập không phải là nghĩa vụ bắt buộc.
Tòa án được linh hoạt quyết định áp dụng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ này đối với người bị kết án.