Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và lí thuyết nghiên cứu của luận án Chương 2: Những vấn đề lí luận về pháp luật về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn. Chương 3: Th c trạng pháp luật về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÍ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài Kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn là một trong những biện pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác PCTN và được ghi nhận trong UNCAC. Ngoài ra, kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn còn là biện pháp góp phần phòng ngừa xung đột lợi ích, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của công chức, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, xây d ng lòng tin của người dân và các nhà đầu tư đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật trong l nh v c này không chỉ là cơ sở, điều kiện để PCTN, xây d ng nền công vụ trong sạch, mà là còn nhiệm vụ thường xuyên của quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Do ý ngh a và vai trò quan trọng của nó, trong thời gian qua, nhiều nội dung có liên quan đến pháp luật về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn đã thu hút được s quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Luận án sẽ rà soát, phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu về nội dung liên quan đến Đề tài đã được th c hiện bởi các tác giả trong nước và trên thế giới. Trên cơ sở đó, tìm ra những khoảng trống về mặt học thuật cần tiếp tục nghiên cứu và khẳng định tính cấp thiết, đóng góp của Luận án. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến Luận án 1. Các công trình nghiên cứu lí luận về pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn Bàn đến vấn đề lí luận về pháp luật về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn, có các công trình khoa học tiêu biểu như: Đề tài khoa học cấp bộ “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” do Cục Phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ th c hiện [98]; tài liệu Hội thảo khoa học “Những định hướng lớn sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Phòng chống tham nhũng” do UBTP tổ chức năm 2016 [123]; Luận án tiến s luật học “Các tội phạm tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam” được Trần Văn Đạt bảo vệ thành công năm 7 2012 tại Đại học Luật Hà Nội [42]; Sách “Thuế TNCN trên thế giới và định hướng hoàn thiện ở Việt Nam” của Lê Văn Ái [01]; Sách “Các lý thuyết, mô hình, cách tiếp cận về quản trị nhà nước và PCTN” do tập thể tác giả Nguyên Quế Anh, Vũ Công Giao, Nguy n Hoàng Anh chủ biên [4]; Sách “Quản trị tốt và PCTN: mối liên hệ, thực trạng và giải pháp” do Vũ Công Giao chủ biên [54]; Sách “Quản trị tốt - Lý luận và thực tiễn” do tập thể tác giả Vũ Công Giao, Nguy n Hoàng Anh, Đặng Minh Tuấn, Nguy n Minh Tuấn đồng chủ biên [52]; Sách “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước” do Nguy n Minh Đoan chủ biên [48]; Sách “Văn hóa liêm chính – Một số vấn đề lý luận, thực tiễn” do tập thể tác giả Khuất Thu Hồng, Vũ Công Giao, Trần Kiên đồng chủ biên [57].
Liên quan đến các định ngh a, khái niệm về thu nhập, về tài sản, về người có chức vụ, quyền hạn đã được các tác giả đưa ra và phân tích khá sâu sắc trên cơ sở nội dung, đặc điểm của từng vấn đề: Trong Đề tài khoa học “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” do Cục Phòng, chống tham nhũng th c hiện đưa ra khái niệm kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn: Là tổng thể những biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để biết được biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhằm phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền bạc, của cải, vật chất trái pháp luật; sử dụng tài sản của nhà nước quy định của pháp luật để vụ lợi hoặc dùng tài sản của mình để thực hiện hành vi tham nhũng [98].TS Vũ Công Giao trong bài “Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn và khả năng áp dụng cho Việt Nam” đưa ra khái niệm kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn: Là tập hợp các biện pháp mà nhà nước sử dụng để biết được số lượng, nguồn gốc và giám sát biến động tài sản của người có chức vụ, quyền hạn [121]. TS Phan Thị Lan Hương thì cho rằng, kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là những biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng bao gồm các hoạt động kiểm tra, rà soát để có thể biết được những biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, từ đó kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền bạc, của cải, vật chất trái quy định hoặc tìm cách 8 tư lợi cá nhân thông qua th c hiện hành vi tham nhũng [85]… Qua các khái niệm về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn đã được các tác giả phân tích và qua tổng hợp cho thấy, chúng có một số đặc điểm như (1) tập hợp các biện pháp mà nhà nước sử dụng; (2) nhằm theo dõi về biến động TSTN của người có chức vụ, quyền hạn; (3) nhằm ngăn chặn việc sử dụng quyền l c công để tư lợi [98], [121]. Mục đích, vai trò của kiểm soát TSTN là nhằm PCTN, phòng ngừa xung đột lợi ích, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, thể hiện quyết tâm chính trị của đảng cầm quyền. Liên quan đến nội dung pháp luật về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn, PGS.TS Vũ Công Giao cho rằng, việc l a chọn đối tượng để kiểm soát TSTN cần phải tính đến nguồn l c bảo đảm, để từ đó kiểm soát chặt chẽ những đối tượng được l a chọn, tránh tình trạng do không th c hiện tốt mà hệ thống kiểm soát mất uy tín, mất niềm tin của nhân dân vào hệ thống này [134].
Đồng thời, PGS.TS Vũ Công Giao cũng liên hệ đến lý thuyết “Vụ nổ lớn”, lấy ví dụ của Xin-ga-po và Hồng Kông là những điển hình trong áp dụng lý thuyết này. Theo đó, quyết tâm chính trị của các chính trị gia đứng đầu là điều kiện tiên quyết để bài trừ tham nhũng. Quyết tâm này phải đủ mạnh (như một “vụ nổ lớn”) để “càn lướt” qua những trở ngại, đặc biệt là những chính trị gia tham nhũng khác mà đang nắm quyền l c, cũng như để v c dậy niềm tin của công chúng vào khả năng bảo đảm liêm chính cũng như năng l c chống tham nhũng của chính quyền [54, tr 109]. Khi bàn đến tính độc lập của cơ quan chống tham nhũng, PGS.TS Vũ Công Giao cũng đã liên hệ đến lý thuyết “Tiếp cận văn hóa và thể chế”.
Theo đó, trong những năm đầu của thập niên 1990, một chủ thể mới trong cuộc chiến chống tham nhũng với tư cách là “những chiến binh liêm chính” tại các quốc gia, đó là cơ quan chuyên trách chống tham nhũng (tên tiếng Anh là Anti-Curruption Agency, viết tắt là ACA). Lý thuyết thể chế cho rằng, ACA độc lập là một thiết chế không thể thiếu để bảo đảm hiệu quả PCTN ở các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển mà tình trạng tham nhũng có tính phổ biến [54, tr 114]. Cùng quan điểm này là quan điểm của Ban Nội chính trung ương [19]. 9 Liên quan đến thu hồi tài sản tham nhũng, tài sản bất minh, PGS.TS Vũ Công Giao, TS Đỗ Thu Huyền và Hoàng Thị Bích Ngọc d a trên lí thuyết về s l a chọn duy lý (Rational Choice Theory): lí thuyết này được d a trên giả định rằng bản chất hành vi con người là xử s có lí trí và logic, hành động phạm tội của con người thường là s tính toán d a trên lí trí về các yếu tố liên quan đến chi phí hành động, khả năng thành công và lợi ích đạt được.
Hành động phạm tội được th c hiện là kết quả nỗ l c ý chí của kẻ phạm tội khi tin tưởng rằng những lợi ích thu được từ hành động phạm tội sẽ lớn hơn chi phí hành động. Do đó, để bảo đảm thành công trong công cuộc PCTN thì các quốc gia cần nỗ l c trong việc gia tăng độ rủi ro đối với việc phạm tội; giảm thiểu những điều kiện thuận lợi cho hành vi phạm tội và đặc biệt là xóa bỏ những lợi ích mà phạm tội trông đợi – đó là tài sản do phạm tội mà có [54, tr 97; 61]. Ngoài ra, cũng có nhiều nghiên cứu đề cập đến hoàn thiện pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luật trong một số l nh v c nói riêng như: Bài viết “Những yêu cầu đối với xây dựng và hoàn thiện pháp luật” của GS.TS Nguy n Minh Đoan đăng trên Tạp chí Luật học [44]; Luận án tiến s luật học “Nâng cao hiệu quả pháp luật của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Nguy n Minh Đoan bảo vệ thành công tại Trường đại học Luật Hà Nội năm 2001 [45]; Luận án tiến s luật học “Hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam hiện nay” của Phí Thị Thanh Tâm bảo vệ thành công năm 2015 tại Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; sách “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật” của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế [87]… Các công trình nghiên cứu này đã làm rõ được các tiêu chí hoàn thiện pháp luật nói chung và những tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật ở một số l nh v c khác nhau; về các điều kiện bảo đảm cho việc hoàn thiện pháp luật; các yếu tố chung và các yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam… Chẳng hạn, GS.