CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại - Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay là một trong những nghiệp vụ của NHTM. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
- Khái niệm doanh nghiệp Có nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, nếu xét quan điểm mục tiêu lợi nhuận thì M.Francois – một nhà kinh tế người Pháp đã định nghĩa: “Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản nhất định người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ để bán trên thị trường nhằm thu về khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm ”. Theo luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Như vậy doanh nghiệp được hiểu là một đơn vị sản xuất kinh doanh, có tài sản, được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Mục đích kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu là lợi nhuận, tối 9 đa lợi ích cho các chủ thể doanh nghiệp.
- Khái niệm cho vay doanh nghiệp của NHTM Cho vay doanh nghiệp là việc thỏa thuận giữa NHTM và doanh nghiệp, theo đó NHTM giao cho doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại cho vay doanh nghiệp - Theo thời hạn cho vay Theo tiêu chí này hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến một năm. Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên một năm đến 5 năm. Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
- Theo mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp vay vốn Theo tiêu chí này hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: Cho vay bất động sản Cho vay kinh doanh chứng khoán Cho vay nông nghiệp Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu - Theo hình thức đảm bảo tiền vay Theo tiêu chí này, hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bên thứ ba). Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: là các khoản cho vay không 10 có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của bên thứ ba mà thường dựa trên uy tín và năng lực tài chính của DNVV để cho vay. - Theo phương thức cho vay Theo tiêu chí này, hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: Cho vay từng lần (cho vay theo món): Phương thức này áp dụng đối với doanh nghiệp có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần, có quan hệ không thường xuyên với NHTM, có nguồn thu không ổn định; việc vay vốn của DN chỉ mang tính thời vụ hay mở rộng sản xuất như cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với các DNVV có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên với NHTM.
Hạn mức cho vay đối với doanh nghiệp được tính toán trên cơ sở nhu cầu vốn thực tế của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay đồng tài trợ: là hình thức nhiều NHTM cùng cho vay một dự án, phương án kinh doanh và cùng gánh chịu rủi ro như nhau. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp Trong quan hệ vay vốn với ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp có đặc điểm sau: - Thứ nhất, doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên mục đích cho vay doanh nghiệp là đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn so với qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân nên doanh thu hoạt động của doanh nghiệp lớn, nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh cụ thể vay vốn lưu động, đầu tư dây chuyền sản xuất kinh doanh thường rất lớn.
Do đó cho vay doanh nghiệp thường là cho vay món lớn và dư nợ cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong 11 tổng dư nợ vay của ngân hàng.Thông qua hoạt động cho vay doanh nghiệp, NHTM tiết kiệm được chi phí trong hoạt động cho vay do chi phí giao dịch trong cho vay doanh nghiệp thấp so với qui mô cho vay. - Thứ hai, doanh nghiệp hoạt động theo qui định của pháp luật nên các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh ghi chép đầy đủ và rõ ràng. Thông tin tài chính của DNVV được thể hiện rõ ràng qua báo cáo tài chính của DNVV, qua đó giúp cho NHTM dễ dàng giám sát được các hoạt động của DNVV. Hồ sơ pháp lý của DNVV cũng rất rõ ràng nên NHTM không quá khó để đánh giá tư cách pháp lý của DNVV và những người liên quan.
- Thứ ba, cho vay doanh nghiệp thường ở qui mô lớn, lợi ích thu được từ hoạt động cho vay cao. Điều này có nghĩa là rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp thường cao. Giá trị tổn thất trong cho vay doanh nghiệp cũng chiếm giá trị lớn trong tổng tổn thất của NHTM. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, NHTM luôn phải đối diện với nhiều loại rủi ro. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng mà một tiến trình hoặc một sự kiện nào đó gây ra một kết cục không mong đợi lên tình hình tài chính của NHTM hoặc cản trở NHTM thực hiện các mục tiêu đã định. Trong các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro tín dụng có tác động lớn nhất đến mục tiêu kinh doanh của NHTM. Vậy rủi ro tín dụng là gì? Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các 12 luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn (A.Lange (1995), Financial Institutions Management – A Modern Perpective, Irwin, Artarmon) Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận.
Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Timothy W. Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau: - Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn (delayed payment) hoặc không thanh toán (nonpayment).
- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Như vậy, rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp được hiểu là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ vay của DN tại NHTM do DN vay vốn không thực hiện đúng hạn hoặc không có khả năng thực hiện đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết. 13 Qua các khái niệm trên ta thấy RRTD trong cho vay DN là một khái niệm có nhiều biểu hiện và nhiều cấp độ.
Mức thấp nhất của rủi ro tín dụng là sự trễ hẹn một vài ngày của dòng tiền đã cho vay dẫn đến quá hạn, nợ xấu, mức độ cao nhất là vỡ nợ. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp khác nhau tùy theo mục đích, tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cách phân loại rủi ro tín dụng phổ biến hiện nay như sau: - Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây: Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay giải ngân, theo dõi, giám sát khoản vay).