Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong ngân hàng Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, vai trò tín dụng ngân hàng a, Khái niệm Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay, sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán.
(Hồ Diệu, 2001, Giáo trình tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê, trang 20) b, Vai trò của tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay. Với tư cách là người đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội. Trái lại, với tư cách là người cho vay thì ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân vì thế một số vai trò của tín dụng ngân hàng mà chúng ta có thể thấy như sau: - Công cụ đòn bẩy góp phần tăng trưởng và điều tiết nền kinh tế: + TDNH góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong tất cả các thành phần kinh tế thông qua “ đi vay để cho vay.” + TDNH góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển về mặt 8 vốn của công ty cổ phần. + Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng làm biến đổi điều kiện SXKD dịch vụ của các chủ thể kinh tế theo hướng tối đa, góp phần làm cho chu kỳ vận động của tiền tệ rút ngắn về thời gian, nâng cao vòng quay của tiền tệ.
- Góp phần tài trợ cho quá trình tái sản xuất, mở rộng và tăng cường tài sản cố định + Nhu cầu về tín dụng trung và dài hạn trong thực tế tập trung từ các khách hàng doanh nghiệp là chủ yếu. Thông qua tín dụng trung và dài hạn, NHTM đã giúp các doanh nghiệp mở rộng cơ sở sản xuất – kinh doanh, mua sắm máy móc thiết bị… nâng cao giá trị sản lượng, trang bị mới thiết bị cơ sở vật chất có tính năng hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động… Góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh: lợi nhuận, an toàn và phát triển không ngừng. - Tạo điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt được những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là những thành tựu trong các ngành khoa học ứng dụng đã tạo thời cơ và cũng là thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức kinh tế trên thị trường. Tuy việc ứng dụng này là cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều gặp phải rào cản lớn đó là chi phí bỏ ra ban đầu rất lớn, bản thân vốn tự có của doanh nghiệp không thể đáp ứng được.
Trong hoàn cảnh đó, TDNH, đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất – kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp không ngừng nâng cao được vị thế trên thị trường, hiệu quả của doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM. - Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 9 Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sát hoạt động sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với các doanh nghiệp. Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả, đôn đốc doanh nghiệp vay vốn trả gốc và lãi đúng thời hạn thỏa thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng.
Khác với vốn tự có là không phải trả chi phí vốn, vốn vay ngân hàng phải chịu những điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các doanh nghiệp vay vốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng quay vốn nhanh… để đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại. Mặt khác, trong quá trình kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nhược điểm, sai sót từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi ro có liên quan đối với NHTM. - TDNH là công cụ của nhà nước được sử dụng để điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế Khi NHTM thực hiện hành vi cấp tín dụng cho nền kinh tế, cùng với khả năng tạo tiền sẽ được nhân rộng, tức là đã tạo ra một khả năng cung ứng tiền tệ, làm tăng lượng giá trị trong lưu thông; và với hiệu ứng ngược lại sẽ xảy ra, khi các NHTM thu hẹp tín dụng. Chính từ khả năng này TDNH đã được Nhà nước sử dụng như là một công cụ để điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông thông qua các công cụ thuộc chính sách tiền tệ của NHNN như: dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, lãi suất chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở.
Tóm lại, TDNH không những là hoạt động quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng mà còn có vai trò to lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của cả kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vai trò và khả năng phát huy vai trò của TDNH là không hẳn như nhau đối với từng ngành, từng khu vực và từng nhóm chủ thể trong nền kinh tế. 10 c ) Các loại hình tín dụng trong ngân hàng Tùy vào các tính chất, đối tượng khác nhau mà tín dụng được chia thành những loại sau: - Căn cứ vào thời hạn tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn không quá 12 tháng. + Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
+ Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng: + Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh doanh. + Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được dùng hình thành tài sản cố định. - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: + Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm; xây dựng nhà cửa; xe cộ 1.2 Nguyên tắc và điều kiện, phƣơng thức cho vay a) Nguyên tắc cho vay NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà đặc trưng của nó là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay. Bởi vậy, khi thực hiện hoạt động cho vay thì nguyên tắc cho vay cần phải được ngân hàng áp dụng xuyên suốt quá trình cho vay. Các nguyên tắc đó là: - Hoạt động cho vay được thực hiện theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan. - Khách hàng đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ 11 gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
b) Điều kiện cho vay - Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. - Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp. - Có khả năng tài chính để trả nợ.
- Có phương án sử dụng vốn khả thi. c) Các phương thức cho vay Căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn vay của từng khoản vay của khách hàng và khả năng kiểm tra, giám sát của ngân hàng, ngân hàng nơi cho vay thỏa thuận với khách hàng vay vốn về việc lựa chọn các phương thức cho vay sau: (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), điều 27 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 QĐ về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng) - Cho vay từng lần: Áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần. Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay ký kết thỏa thuận cho vay. - Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai TCTD trở lên cùng thực hiện cho 12 vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn.
- Cho vay lưu vụ: Là việc TCTD thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, TCTD và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, TCTD thực hiện cho vay từng lần.