Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số hiểu biết về bệnh hen phế quản 1. Định nghĩa về hen phế quản Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính đường thở, với sự tham gia của nhiều tế bào và thành phần tế bào, làm tăng tính đáp ứng đường thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc nghẽn, hạn chế luồng khí đường thở, làm xuất hiện các dấu hiệu khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn nhiều lần, thường xảy ra ban đêm và sáng sớm, có thể hồi phục tự nhiên hoặc do điều trị [50]. Dịch tễ học hen phế quản 1.
Tỉ lệ mắc hen phế quản trẻ em trên thế giới Do sự biến đổi của môi trường, sự thay đổi khí hậu, thói quen hút thuốc lá… đã làm gia tăng đáng kể bệnh lý của đường hô hấp đặc biệt là bệnh HPQ. HPQ là một trong những bệnh phổi mạn tính phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi [75] với tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng, đặc biệt ở trẻ em. Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày của bệnh nhân. Khi tình trạng bệnh không được kiểm soát; bệnh nhân có thể xuất hiện cơn HPQ cấp nặng và có thể gây tử vong rất nhanh [7].
Hiện nay trên thế giới có khoảng 235 triệu người mắc HPQ với khoảng 383.000 trường hợp tử vong do HPQ mỗi năm [75]. Nghiên cứu ở Châu Âu cho tỉ lệ HPQ trẻ em tương đối dao động, từ 1,72% ở Đức cho tới 13,48% ở Anh [70]. Tỉ lệ HPQ ở trẻ em thuộc thành phố St. Peterburg, Nga là 7,4% [51].
Tỉ lệ HPQ ở trẻ em Belarus là 1,39% [64]. Tỉ lệ HPQ ở trẻ em Ba Lan vùng nông thôn là 3,5%, vùng thành thị 4,1%; tỉ lệ HPQ ở trẻ em Ukraine vùng nông thôn là 1,4%, vùng thành thị 2,1% [46]. Tỉ lệ HPQ ở trẻ em Ấn Độ là 4,75% [61]. Tỉ lệ HPQ ở trẻ em tại Quảng Châu, Trung Quốc là 4,8% [76].
Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO), cứ 10 năm tỉ lệ mắc 4 HPQ tăng 20 - 50%, đặc biệt 20 năm qua tốc độ tăng tỉ lệ mắc HPQ ngày một nhanh hơn. Tỉ lệ mắc HPQ ở mỗi vùng và mỗi lứa tuổi rất khác nhau; hay gặp ở những nước công nghiệp có nền kinh tế phát triển và tốc độ đô thị hoá mạnh [75]. Báo cáo trong Chương trình khởi động toàn cầu về hen thấy: trong 10 năm (1984 - 1994), tỉ lệ HPQ trẻ em ở khu vực Đông Nam Á - Tây Thái Bình Dương tăng gấp 2 - 10 lần [1]. Tỉ lệ HPQ ở một số nước trên thế giới như sau: Bảng 1.
Tỉ lệ hen phế quản trẻ em một số nước trên thế giới [1] Nước 2001 2016 Anh 12,1% 13,48% Mexico 5,1% 6,5% Nhật 9,2% 9,8% Hoa Kỳ 8,7% 8,3% Philipines 18,8% 20,1% Thái lan 4,0% 9,7% 1. Tỉ lệ mắc hen phế quản trẻ em ở Việt Nam Tại Việt Nam, HPQ là bệnh lý mạn tính đường hô hấp thường gặp, chiếm tỉ lệ trung bình là 5% (ở người lớn) và 10% (ở trẻ em). Việt Nam hiện chưa có con số hệ thống và chính xác về tỉ lệ mắc HPQ cho cả nước, báo cáo sơ bộ cho thấy tỉ lệ mắc HPQ trẻ em chiếm khoảng 4 - 8% và có xu hướng tăng nhanh [10]. Nghiên cứu của Phan Quang Đoàn và cs (2006) cho tỉ lệ HPQ ở học sinh trường trung học phổ thông Hà Nội là 8,74% [14].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải và cs (2007) cho tỉ lệ HPQ ở trẻ em 13 - 14 tuổi tại thành phố Cần Thơ là 5% [19]. Nghiên cứu của Khổng Thị Ngọc Mai (2011) thấy tỉ lệ HPQ ở học sinh tiểu học, trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên là 9,5% [28]. Nghiên cứu của Trần Thúy Hạnh và Nguyễn Văn Đoàn (2011) khảo sát tại 7 tỉnh thành, đại diện cho 7 vùng miền trong cả nước là Nam Định, Tuyên 5 Quang, Nghệ An, Khánh Hòa, Bình Dương, Gia Lai và Tiền Giang thấy độ lưu hành HPQ ở trẻ em là 3,2%, tỉ lệ nam/nữ ở trẻ em là 1,63/1; độ lưu hành HPQ cao nhất ở Nghệ An (6,9%) và thấp nhất ở Bình Dương (1,5%) [21]. Hậu quả do hen phế quản gây ra * Đối với người bệnh HPQ gây ảnh hưởng lớn đến người bệnh: sức khoẻ ngày càng giảm sút, mất ngủ gây suy nhược thần kinh, bi quan, lo lắng, mất việc, nghỉ học, chất lượng cuộc sống giảm sút.
Nhiều trường hợp có biến chứng viêm phổi hoặc tử vong hoặc tàn phế do không được cứu chữa kịp thời. Nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống của trẻ bị HPQ giảm sút rõ rệt. Theo Đoàn Thị Thanh Bình (2012) thì HPQ có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của trẻ với điểm trung bình chất lượng cuộc sống là 5,46 [6]. Nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cs (2013) thấy: HPQ ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày và ảnh hưởng đến thay đổi cảm xúc [18].
Đối với trẻ bị HPQ có thể sẽ bị biến chứng viêm phổi kèm theo làm tăng thời gian điều trị và ảnh hưởng chất lượng cuộc sống. Tử vong do HPQ là biến chứng cực kỳ nguy hiểm. Thống kê cho thấy HPQ là 1 trong 20 bệnh mạn tính gây tàn phế cao nhất và là 1 trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em từ 5 - 14 tuổi. Tỉ lệ tử vong do HPQ ở trẻ em dao động từ 0 - 0,7/100.
Nghiên cứu của Eroglu G. và cs (2002) tại Louisiana, Mỹ cho tỉ lệ tử vong do HPQ ở trẻ em là 0,63/100. Tỉ lệ tử vong do HPQ ở trẻ em tại Thụy Điển là 1,54/1.000 trẻ em năm 1994 và 0,53/1. Tỉ lệ tử vong do HPQ ở trẻ em tại Phần Lan là 0,19/1.
* Đối với gia đình Gia đình bệnh nhân HPQ thường có hai quan điểm trái ngược nhau: (1) Không quan tâm, xem nhẹ nguy cơ của bệnh, cho rằng bệnh không điều trị được, ít động viên trẻ kiên trì điều trị. (2) Nhưng cũng có những gia đình hết sức quan tâm đến điều trị bệnh cho trẻ. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng 6 Chương và cs (2014) thấy: 21,2% phụ huynh của trẻ bị HPQ có dấu hiệu lo lắng trầm cảm. Phụ huynh có nguy cơ lo lắng trầm cảm cao nếu kinh tế nghèo (p <0,05) và trẻ chưa được kiểm soát tốt cơn hen (p = 0,03).
Điểm chất lượng cuộc sống của phụ huynh thấp nếu phụ huynh trẻ tuổi, có lo lắng trầm cảm (p<0,05) và trẻ chưa được kiểm soát hoàn toàn cơn hen (p<0,05) [12]. * Đối với xã hội Thiệt hại do HPQ gây ra bao gồm các chi phí trực tiếp cho khám bệnh, xét nghiệm, tiền thuốc và những chi phí gián tiếp nghỉ việc, nghỉ học, giảm khả năng lao động, giảm chất lượng cuộc sống. Theo Phùng Thị Chuyên (2011): chi phí điều trị trung bình cho mỗi đợt HPQ nội trú là 7.227,25 VNĐ/bệnh nhân; trong đó, chi phí thuốc điều trị chiếm 79,69% [13]. Các yếu tố nguy cơ gây hen phế quản 1.
Yếu tố bản thân * Tuổi: mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc HPQ, nhưng HPQ gặp nhiều ở trẻ nhỏ. HPQ có thể khỏi hoặc giảm nhẹ ở tuổi dậy thì. Nghiên cứu của Winer R. và cs (2012) cho tỉ lệ nguy cơ mắc HPQ ở trẻ 0 - 4 tuổi là 23,4/1.000, cao gấp 5 lần so với trẻ từ 12 - 17 tuổi là 4,4/1.
Tỉ lệ nguy cơ mắc HPQ ở trẻ em chung là 12,5/1.000 và ở người trưởng thành là 3,8/1. * Giới: HPQ có thể xuất hiện ở cả 2 giới, nhưng tỉ lệ mắc HPQ ở giới theo lứa tuổi không giống nhau. Trước dậy thì, HPQ gặp ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ [9], đến tuổi thanh niên thì tỉ lệ HPQ là ngang nhau giữa 2 giới, ở người lớn thì nữ giới lại mắc HPQ nhiều hơn ở nam giới. Theo Ngô Thị Xuân (2008): HPQ gặp ở trẻ trai (68,0%) cao hơn trẻ gái (32,0%) [42].
Theo Nguyễn Thị Thái Hà (2017) thì tỉ lệ nam/nữ ở trẻ HPQ từ 2 - 5 tuổi là 1,33/1 [17]. Theo Nguyễn Tiến Dũng và cs (2010), tỉ lệ HPQ nam/nữ là 2,1/1 [16]. * Cơ địa: Trẻ có cơ địa dị ứng như: chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, viêm xoang dị ứng, thể trạng tiết dịch là những yếu tố thuận lợi gây HPQ. Viêm mũi dị ứng có liên quan khá chặt chẽ với HPQ: tỉ lệ viêm mũi dị 7 ứng/HPQ là 75,1%; viêm mũi dị ứng thường khởi phát trước hay đồng thời với HPQ (70%) [34].
Trẻ có cơ địa dị ứng thì có nguy cơ bị HPQ cao gấp 8,5 lần (95%CI: 5,6 - 12,9) so với trẻ không có cơ địa dị ứng [69]. Trẻ có dị ứng với mạt nhà, chó, mèo và nấm mốc thì có nguy cơ mắc HPQ nhiều hơn [30]. Yếu tố gia đình Nếu bố mẹ, anh chị em ruột bị HPQ, bị dị ứng, hay bị viêm da cơ địa thì khả năng mắc HPQ là rất cao. Nếu cha, mẹ có cơ địa dị ứng thì con có nguy cơ bị HPQ cao gấp 1,4 lần so với trẻ không có cha mẹ có cơ địa dị ứng [49].
Trẻ có nguy cơ bị HPQ cao gấp 4,27 lần nếu cả bố mẹ và ông bà đều bị HPQ; có nguy cơ bị HPQ cao gấp 1,52 lần nếu chỉ có ông bà bị HPQ [71]. Trẻ có nguy cơ bị HPQ gấp 2,4 lần (95%CI: 1,2 - 4,6) nếu mẹ bị HPQ, có nguy cơ bị HPQ gấp 2,6 lần (95%CI: 1,2 - 5,4) nếu mẹ có tiền sử dị ứng [60]. Các yếu tố về môi trường - Dị nguyên đường hô hấp: bụi nhà, bụi đường phố, bụi chăn đệm, khói bếp, khói thuốc lá, lông súc vật, phấn hoa, các khí lạnh, các chất thải ôtô, xe máy. là nguyên nhân thường gặp nhiều nhất gây HPQ.
Theo Nguyễn Thị Kim Anh (2014) thì tỉ lệ trẻ HPQ có test lẩy da (+) với 1 dị nguyên hô hấp trong nhà là 72,1%, test lẩy da (+) với ≥ 2 dị nguyên chiếm 86,1% [5]. HPQ có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng hút thuốc lá của bố, mẹ [52], [66]. Nghiên cứu của Kamran A. - Thuốc và hoá chất: aspirin, penicillin, sulphamid… là những chất nếu tiếp xúc lâu dài làm tăng nguy cơ mắc HPQ ở trẻ em.
Nghiên cứu Ripabelli và cs (2013) thấy tỉ lệ HPQ ở trẻ sống khu công nghiệp chiếm 24,7% [63]. - Nhiễm khuẩn: đặc biệt là các nhiễm khuẩn do virus (virus hợp bào hô hấp, virus cúm, á cúm. Nghiên cứu của Trịnh Thị Ngọc (2015) thấy nhóm trẻ 8 nhiễm virus đường hô hấp có nguy cơ mắc cơn hen cấp nặng cao gấp 8,85 lần so với nhóm trẻ không nhiễm virus [29].