Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Chương 2 T C TRẠNG C UYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA CÓ ĐẦU TƯ NƯỚC NG I TẠI VIỆT NA Chương 3 CÁC GIẢI P ÁP IỂ S ÁT V C ỐNG C UYỂN GIÁ ĐỐI VỚI CÁC D AN NG IỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NG I TẠI VIỆT NA. 1 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1. Tổng quan về công ty đa quốc gia và vấn đề định giá chuyển giao 1. Công ty đa quốc gia Khái niệm công ty đa quốc gia Công ty đa quốc gia là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia, là công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau.
Công ty đa quốc gia thường được viết tắt là MNC (Multinational Corporation) hoặc MNE (Multinational Enterprises). Công ty đa quốc gia có qui mô lớn và có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Các công ty đa quốc gia đóng vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia. Đặc điểm hoạt động của công ty đa quốc gia - Quyền sở hữu tập trung: các công ty con hoặc chi nhánh trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù những hoạt động cụ thể hằng ngày của chúng không hoàn toàn giống nhau.
- Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng phù hợp với các chi nhánh ở từng quốc gia. - Các công ty đa quốc gia có thể được xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc về các phương tiện sản xuất: + Công ty đa quốc gia theo “chiều ngang”: là công ty đa quốc gia có các công ty con sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau; + Công ty đa quốc gia theo“chiều dọc”: là công ty đa quốc gia có các công ty con sản xuất ở một số quốc gia nào đó, sản phẩm sản xuất ra ở quốc gia này là đầu vào cho sản xuất ở một số quốc gia khác; 2 + Công ty đa quốc gia “nhiều chiều”: là công ty đa quốc gia có các công ty con sản xuất ở các quốc gia khác nhau mà các công ty này hợp tác với nhau theo cả chiều ngang và chiều dọc. Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia Cùng với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các công ty quốc gia tiến hành sáp nhập lại với nhau hình thành nên công ty đa quốc gia, nhằm mục tiêu lớn nhất là tối đa hóa giá trị tài sản của công ty thông qua việc tìm kiếm và khai thác các tiềm lực tại chỗ: các nguồn nguyên liệu thô dồi dào, giá nhân công rẻ, bên cạnh những ưu đãi về thuế ở các quốc gia để mở rộng hoạt động đầu tư nước ngoài.
Sự hình thành và phát triển công ty đa quốc gia nhằm mục tiêu: - Quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh được những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng ., chống lại chính sách bảo hộ mậu dịch ở các quốc gia; - Sử dụng khả năng cạnh tranh và những lợi thế so sánh của các công ty quốc gia, thực hiện việc chuyển giao đối với các ngành công nghệ bậc cao; - Tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường; bảo vệ thị phần, giảm chi phí trung gian, đáp ứng nhanh nhu cầu người tiêu dùng; - Tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro; tránh được những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất, đồng thời giảm thiểu sự không ổn định của chu kỳ kinh doanh nội địa; - Bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành mà công ty không muốn chuyển giao; - Hạn chế và nâng cao khả năng bảo vệ trước rủi ro; bởi vì, công ty đa quốc gia hoạt động trong môi trường quốc tế nên thường phải đối mặt với các rủi ro trong giao dịch mua bán hàng hóa và rủi ro trong dịch chuyển tài chính. Nhìn chung, các công ty đa quốc gia ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế thế giới và giữ vai trò trọng yếu trong việc thúc đẩy tiến trình quốc tế hóa kinh tế toàn cầu, biến mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới. Định giá chuyển giao Khái niệm Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation of Economic Co-operation and Development-OECD) đã đưa ra khái niệm về giá chuyển giao như sau:“Giá chuyển giao là giá áp dụng cho mục đích ghi sổ, dùng để xác định giá giao dịch giữa các công ty thành viên, được thống nhất quản lý với mức giá ảo cao hay thấp nhằm tác động vào các khoản phải trả cho thu nhập hoặc chuyển vốn giữa các công ty thành viên này” (OECD, 2010). Như vậy, giá chuyển giao là thuật ngữ để chỉ giá cả của các loại tài sản, hàng hóa, dịch vụ nói chung được sử dụng trong các giao dịch nội bộ của một công ty đa quốc gia hay một tập đoàn.
Việc xác định mức giá giao dịch nội bộ này được gọi là định giá chuyển giao. Định giá chuyển giao nội bộ không chỉ tác động lên kết quả hoạt động kinh doanh mà còn tác động đến các khoản thuế phải trả của công ty đa quốc gia. Các tài sản hữu hình hoặc vô hình, các hàng hóa, dịch vụ do công ty mẹ cung cấp hay từ một công ty con sản xuất ra có thể được bán cho công ty mẹ hoặc các công ty con khác ở nước ngoài theo mức giá chuyển giao do công ty mẹ qui định mà không chịu sự tác động của cơ chế thị trường. Thực tế cho thấy, phần lớn các qui trình sản xuất đi qua nhiều nước, nên một sản phẩm có thể được lắp ráp ở một quốc gia từ các linh kiện được sản xuất ở nhiều quốc gia khác.
Khi một công ty đa quốc gia sở hữu một dây chuyền sản xuất quốc tế như vậy thì vấn đề định giá chuyển giao nội bộ tất yếu sẽ phát sinh. Các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ: cơ bản gồm 3 phương pháp Phương pháp định giá dựa vào chi phí (Cost-based transfer price) Là mức giá chuyển giao nội bộ được xác định dựa trên chi phí sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ. Chi phí sản xuất được đề cặp ở đây có thể là: chi phí biến đổi, chi phí biến đổi cộng chi phí cố định, hoặc chi phí toàn bộ. Các chi phí này được xác định dựa trên số tiền thực tế phát sinh hoặc dựa trên chi phí định mức.
Giá chuyển giao 4 thường bao gồm khoản lợi nhuận biên cho bên bán. Hệ thống giá chuyển giao dựa trên chi phí áp dụng đơn giản, nhưng có hai vấn đề có liên quan được đặt ra, đó là: + Phương pháp đo lường chi phí nào được sử dụng, và + Tính không hiệu quả trong một đơn vị có thể truyền sang các đơn vị khác, bởi việc áp dụng mức giá chuyển giao này không khích lệ được các công ty quốc gia kiểm soát chi phí. Tuy nhiên, việc sử dụng chi phí định mức có thể hạn chế được vấn đề này hơn là sử dụng chi phí thực tế. Phương pháp định giá dựa vào giá bán trên thị trường (Market-based transfer price) Giá chuyển giao tính cho các công ty quốc gia dựa trên mức giá sẽ bán cho một khách hàng không liên kết, hoặc được xác định thông qua sự tham khảo giá bán của các sản phẩm hàng hóa tương tự ở các công ty khác bán cho các bên mua độc lập.
Hệ thống định giá dựa trên giá thị trường cần tránh việc kết hợp với hệ thống định giá dựa trên chi phí, do tính không hiệu quả của công ty quốc gia này có thể truyền sang các công ty quốc gia khác khi áp dụng mức giá chuyển giao dựa trên chi phí. Phương thức định giá này giúp đảm bảo tính tự quản l và cung cấp một cơ sở tin cậy cho việc đánh giá thành quả hoạt động của các công ty quốc gia. Nhưng nó c ng có những điểm hạn chế sau: + Hiệu quả hoạt động của hệ thống định giá dựa vào giá thị trường phụ thuộc vào sự hiện hữu của các thị trường cạnh tranh và các dự báo về giá thị trường đáng tin cậy. + Đối với một số khoản mục như là sản phẩm d dang không thể có các bên mua bên ngoài công ty đa quốc gia và do đó không thể có giá cả thị trường bên ngoài.
Phương pháp định giá theo thỏa thuận (Negotiated price) Giá chuyển giao là kết quả từ sự thoả thuận giữa bên mua và bên bán, do vậy mức giá này sẽ không liên quan đến chi phí hoặc giá trị thị trường. Hệ thống định giá th a thuận được xem là rất hữu ích, bởi vì nó cho ph p Giám đốc các công ty quốc gia tự do mặc cả với một đối tác khác, từ đó duy trì được tính tự quản l của họ. Tuy nhiên, để cho hệ thống này hoạt động một cách hiệu quả thì điều quan trọng là các khoản mục được chuyển giao phải hiện hữu trên thị trường bên ngoài để cho các bên thương lượng có những thông tin khách quan làm cơ sở 5 cho việc đàm phán. Bất lợi của phương thức định giá này là thoả thuận đạt được có thể k o dài, đặc biệt là nếu tiến trình đàm phán không mang lại kết quả và k o theo việc các bên trở nên quan tâm đến sự thắng bại trong đàm phán hơn là xem x t các vấn đề xuất phát từ quan điểm của tập đoàn.
Cho nên việc chấp nhận mức giá qua đàm phán không thể đo lường được thành quả hoạt động của một Giám đốc, nó thể hiện một khả năng đàm phán hơn là trách nhiệm của người Giám đốc trong kiểm soát chi phí và tạo ra lợi nhuận. Các phương pháp định giá khác nhau thì thích hợp trong các tình huống khác nhau, cụ thể: + Giá chuyển giao dựa trên chi phí toàn bộ có thể xấp xỉ với giá chuyển giao theo giá thị trường khi việc xác định giá thị trường là không thể thực hiện được.