chương 1. Ngoài ra, việc giới thiệu các nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện như thế nào trước đây sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quan về những kết quả nghiên cứu đạt được để đưa ra hướng nghiên cứu mà luận văn sẽ thực hiện. Lý thuyết thị trường hiệu quả 2.1 Khái niệm thị trường hiệu quả Trong nghiên cứu kinh tế nói chung và trong phân tích tài chính nói riêng, một thị trường được xem là hiệu quả khi nó đồng thời hiệu quả trên cả ba mặt cơ bản: phân phối, hoạt động và thông tin (Vũ Thị Minh Luận, 2010). Hiệu quả về mặt phân phối: là khả năng đưa các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế đến người sử dụng sao cho trên cơ sở nguồn lực có được người ta sẽ tạo ra kết quả đầu ra lớn nhất, tức là họ sử dụng được một cách tốt nhất và hiệu quả nhất.
Người sử dụng tốt nhất cho nguồn lực huy động được chính là người có khả năng trả giá cao nhất cho quyền được sử dụng nguồn lực đó (Hiệu quả Parreto trong kinh tế học). Hiệu quả về mặt hoạt động của thị trường: thể hiện bởi khả năng làm cực đại hóa quy mô giao dịch trên một thị trường tài chính cụ thể và dựa trên các nguyên tắc căn bản như ở các thị trường khác là mở rộng khả năng lựa chọn hàng hóa và Trang 6 dịch vụ cho khách hàng, đảm bảo tính chính xác, kịp thời và trung thực trong việc cung cấp thông tin; tạo thuận lợi cho khách hàng trong việc tham gia thị trường với chi phí giao dịch thấp, từ đó tăng tính thanh khoản cho thị trường; có các biện pháp hữu hiệu chống lại các hoạt động đầu cơ gây tổn hại đến đa số khách hàng… Hiệu quả về mặt thông tin: là khi giá cả của hàng hóa giao dịch trên thị trường được phản ánh đầy đủ và tức thời bởi các thông tin sẵn có trên thị trường như thông tin về môi trường kinh tế vĩ mô, thông tin về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh… và khi đó tất cả những người tham gia thị trường đều có những phản ứng hợp lý và ngay lập tức đối với các thông tin tiếp nhận với giả định rằng không có chi phí mua bán thông tin nên không phát sinh chi phí giao dịch cũng như không có những hạn chế về mặt pháp lý. Các nghiên cứu về lý thuyết thị trường hiệu quả thường xem xét đánh giá mức độ hiệu quả của thị trường về mặt thông tin mà ít đi sâu vào góc độ tìm hiểu mức độ hiệu quả của thị trường về mặt phân phối hoặc hoạt động, bởi vì trong thị trường chứng khoán, tính hiệu quả về mặt thông tin có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của toàn thị trường (khangvi 2010).2 Sự hình thành và phát triển của lý thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả là một trong những lý thuyết chính thống, nền tảng của ngành tài chính. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, lý thuyết này lại càng có ý nghĩa quan trọng, trở thành kim chỉ nam cho nhiều học giả phân tích chứng khoán.
Nhà kinh tế học Samuelson (1965) đã từng nhận xét rằng: “Kinh tế học tài chính được coi là các món phục sức của nhà vua trong các dịp lễ tộc thì Lý thuyết thị trường hiệu quả sẽ chiếm một nửa các đồ trang sức đó” (Trích dẫn lại theo Vũ Thị Minh Luận, 2010). Nhà thống kê học người Pháp Louis Bachelier là người đầu tiên đặt nền tảng cho lý thuyết bước ngẫu nhiên vào những năm đầu 1900. Sau đó vào năm 1959, Osborne cũng đã góp phần làm rõ hơn lý thuyết này. Mô hình bước ngẫu nhiên do Bachelier và Osborne xây dựng dựa trên hai giả định cơ bản: Trang 7 - Thông tin mà các nhà phân tích sử dụng để dự đoán giá trị thực của chứng khoán là độc lập và không có hệ thống theo thời gian.
- Việc đánh giá thông tin của các nhà phân tích là độc lập với nhau, hay nói cách khác việc đánh giá thông tin của nhà phân tích này không ảnh hưởng đến việc đánh giá thông tin của các nhà phân tích khác. Dựa trên những giả định này, hai nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận giá trên thị trường thay đổi liên tục và không theo hệ thống. Những nghiên cứu thống kê đầu tiên của các nhà kinh tế học như Cowles và Jones (1937), Kendall (1953), Granger và Morgenstern (1963), Cootner (1964), Fama (1965)… đã kiểm định lý thuyết bước ngẫu nhiên và đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy sự thay đổi giá chứng khoán là hoàn toàn độc lập. Phương pháp được sử dụng để kiểm định mô hình bước ngẫu nhiên là kiểm định tương quan chuỗi hay còn gọi là tự tương quan, kiểm định đoạn mạch hay còn gọi là kiểm định chuỗi (run test) và mô hình mô phỏng (kiểm định sự độc lập trong thay đổi giá liên tục của chứng khoán).
Những nghiên cứu thực nghiệm này cùng với lý thuyết của Samuelson đã hình thành nên lý thuyết thị trường hiệu quả (Phan Thụy Bích Huyền, 2012). Trong các nghiên cứu sau đó vào năm 1965 và 1970, giáo sư Eugene F.Fama (Đại học Chicago, Illioi) đã đưa ra định nghĩa thị trường hiệu quả là thị trường mà giá cả của mọi hàng hóa giao dịch trên thị trường đều được phản ánh trong nó đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin liên quan đến hàng hóa đó. Vì vậy, tại bất kỳ thời điểm nào giá của chứng khoán luôn được định giá tốt nhất so với giá trị thực của nó. Thị trường hiệu quả sẽ không thiên vị ai, nhà đầu tư sẽ không kiếm được lợi nhuận bất thường nhờ thông tin riêng trừ phi là do may mắn, và cho dù là nhà đầu tư chuyên nghiệp cũng khó có cơ hội vượt trội hơn những người khác.
Nhà đầu tư không thể dự đoán được sự thay đổi giá chứng khoán vì thông tin được công bố một cách ngẫu nhiên nên giá chứng khoán cũng biến động ngẫu nhiên. Nói cách khác, bất kỳ thông tin nào dùng để dự đoán giá chứng khoán trong tương lai đều đã được Trang 8 phản ánh hoàn toàn trong giá chứng khoán đó, giá chứng khoán được xác định tại mức cân bằng, việc giá chứng khoán tăng hay giảm là do chứng khoán phản ứng với các thông tin mới mà thông tin mới là thông tin không thể dự đoán được. Trong một nghiên cứu khác của Fama năm 1970 đã tổng kết lý thuyết thị trường hiệu quả khá đầy đủ và chi tiết như sau một thị trường được coi là hiệu quả khi giá cả luôn được phản ánh đầy đủ bởi các thông tin có sẵn, và đưa ra những điều kiện để tồn tại thị trường hiệu quả: - Thị trường chứng khoán phải có quy mô tương đối lớn nghĩa là phải có lượng lớn nhà đầu tư cùng tham gia trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư cạnh tranh nhau nhằm mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận và rủi ro, họ tiến hành phân tích đánh giá chứng khoán độc lập và hành động của các nhà đầu tư là ngẫu nhiên theo kết quả phân tích của chính mình.
- Không có chi phí thông tin nghĩa là thông tin liên quan đến chứng khoán được công bố rộng rãi trên thị trường, được lưu thông một cách hoàn hảo, chi phí nhà đầu tư bỏ ra để có được thông tin đó là như nhau, không ai có thể thu được lợi nhuận bất thường từ việc mua bán các thông tin đó. - Không có chi phí giao dịch nghĩa là chi phí mà các bên phải bỏ ra để đi đến thỏa thuận là thấp nhất, gần như có thể bỏ qua. Chi phí giao dịch bao gồm thời gian, chi phí đàm phán, soạn thảo và thực thi các giao dịch hay hợp đồng. - Thu nhập kỳ vọng ẩn trong mức giá hiện tại của mọi chứng khoán phải phản ánh rủi ro của chứng khoán đó hay rủi ro và lợi nhuận tương xứng nhau.
Các điều kiện này khó xảy ra trong thực tế, vì vậy khái niệm về thị trường hiệu quả không làm hài lòng tất cả giới nghiên cứu. Trang 9 Khái niệm thị trường hiệu quả tiếp tục được mở rộng với quan niệm của Black (1986) và được ông phát biểu trước Hiệp hội Tài Chính Mỹ. Định nghĩa này tập trung vào quy mô độ chênh lệch giữa giá trị tài sản với giá trị thực. Thông tin của nhà đầu tư có thể bị nhiễu và giá có thể chệch khỏi giá trị thực.
Tuy nhiên trong điều kiện thị trường hiệu quả thì độ chênh lệch kéo dài không quá lâu hoặc quá lớn trước khi chúng được điều chỉnh lại cho đúng. Đến năm 1991, trong một nghiên cứu của Fama, ông cho rằng chi phí giao dịch của thị trường (bao gồm cả chi phí thông tin) càng thấp thì thị trường càng hiệu quả. Hiện nay lý thuyết thị trường hiệu quả được các tác giả phát triển không chỉ bằng việc đưa ra các khái niệm, lý thuyết mà nó được áp dụng trong thực tế để kiểm định tính hiệu quả của thị trường. Từ đó có rất nhiều kết luận thiết thực được rút ra trong hoạt động của Thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.3 Các dạng hiệu quả của thị trường Roberts (1967) là người đầu tiên phân chia các dạng hiệu quả của thị trường (trong tác phẩm không được xuất bản), sau đó Fama (1970) là người đã tổng hợp và phổ biến các dạng hiệu quả của thị trường thành ba cấp độ hay ba dạng hiệu quả được xem xét đó là thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form), thị trường hiệu quả dạng trung bình hay còn gọi là thị trường hiệu quả dạng vừa (semi - strong form) và thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong form).1 Thị trường hiệu quả dạng yếu Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu cho rằng giá chứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy đủ mọi thông tin của thị trường, bao gồm các mức giá trong quá khứ, tỷ suất lợi nhuận, sự thay đổi của giá… Mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là suất sinh lợi của chứng khoán trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương lai (các lợi suất độc lập với nhau).
Trang 10 Hay nói cách khác, không thể dự đoán được giá chứng khoán trong tương lai cũng như không thể kiếm được lợi nhuận vượt trội từ những thông tin về giá của chứng khoán trong quá khứ. Giá chứng khoán tại các thời điểm khác nhau là hoàn toàn độc lập, thay đổi ngẫu nhiên theo thông tin ngẫu nhiên nhận được.