mở đầu tiên cho phép các quy trình thương mại điện tử có thể khám phá lẫn nhau và định nghĩa cách thức tương tác với nhau qua Internet. UDDI có 2 phần: Phần đăng ký của tất cả các metadata của dịch vụ web, bao gồm cả việc trỏ đến tài liệu WSDL mô tả dịch vụ. Phần thiết lập WSDL Port type định nghĩa cho các thao tác và tìm kiếm thông tin đăng ký. Một doanh nghiệp hoặc công ty có thể đăng ký ba loại thông tin với một đăng ký UDDI.
Các thông tin này được chứa trong ba phần tử của UDDI: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 23 Trang trắng - White pages: Chứa thông tin liên hệ và các định dạng chính yếu của dịch vụ Web, chẳng hạn tên giao dịch, địa chỉ, thông tin nhận dạng… Những thông tin này cho phép các đối tượng khác xác định được dịch vụ. Trang vàng - Yellow pages: Chứa thông tin mô tả dịch vụ Web theo những loại khác nhau. Những thông tin này cho phép các đối tượng thấy được dịch vụ Web theo từng loại với nó. Trang xanh - Green pages: chứa thông tin kỹ thuật mô tả các hành vi và các chức năng của dịch vụ Web.
UDDI chưa một lược đồ XML mô tả năm loại cấu trúc dữ liệu: businessEntity businessService bindingTemplate tModel publisherAssertion a. Cấu trúc dữ liệu businessEntity Cấu trúc dữ liệu businessEntity trình bày nhà cung cấp dịch vụ web. Cấu trúc này chứa các thông tin về công ty, bao gồm danh sách liên lạc, thông tin, phân biệt các tổ chức thương mại, và danh sách các nhà cung cấp dịch vụ web. Cấu trúc dữ liệu businessService Cấu trúc dữ liệu businessService trình bày một dịch vụ web độc lập được cung cấp bởi businessEntity.
Nó mô tả các thông tin về cách thức liên kết với dịch vụ web, định nghĩa kiểu dịch vụ web và phân loại danh mục được liệt kê trong đó. Cấu trúc dữ liệu bindingTemplate bindingTemplate là kĩ thuật mô tả của dịch vụ web được trình bày bởi cấu trúc dữ liệu businessService. bindingTemplate trình bày hoạt động thực tế dịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24 vụ web, mô tả công nghệ sử dụng để giao tiếp với dịch vụ web. Một businessService có thể có nhiều bindingTemplate, cho nên dịch vụ phải chỉ rõ các hành động cụ thể khác nhau trong cùng một dịch vụ.
Cấu trúc dữ liệu tModel tModel là lõi trong cùng của kiểu dữ liệu, nhưng rất khó có khả năng để có thể nắm bắt được hết. tModel là chuẩn cho mô hình kĩ thuật tModel là phương pháp để mô tả một vài quy trình thương mại, dịch vụ và các cấu trúc mẫu lưu trữ trong UDDI registry. Bất kì một khái niệm trừu tượng nào đều có thể được đăng ký trong UDDI như là một tModel. Ví dụ: chúng ta có thể định nghĩa ra một kiểu cổng (port type) WSDL mới, và đồng nghĩa với đó ta có thể định nghĩa ra một tModel mới mà trình bày kiểu cổng đó trong UDDI.
Cấu trúc dữ liệu publisherAssertion Đây là một cấu trúc dữ liệu quan hệ mà nó đặt sự kết hợp giữa hai hoặc nhiều cấu trúc dữ liệu businessEntity theo một kiểu quan hệ cụ thể, chẳng hạn như một công ty con hoặc một phòng ban. Cấu trúc dữ liệu pubisherAssertion bao gồm ba thành phần chính: fromkey (BusinessKey đầu tiên), toKey (bussinesskey thứ hai) và keyedReference. KeyReference thiết kế ra kiểu mỗi quan hệ kết hợp trong cặp thuật ngữ keyName, keyValue trong tModel. Tham chiếu duy nhất bởi tModelkey.4 XML XML (eXtensible Markup Language) Là một chuẩn mở do W3C đưa ra cho cách thức mô tả dữ liệu, nó được sử dụng để định nghĩa các thành phần dữ liệu trên trang web và cho những tài liệu B2B.
Về hình thức, XML hoàn toàn có cấu trúc thẻ giống như ngôn ngữ HTML nhưng HTML định nghĩa thành phần được hiển thị như thế nào thì XML lại định nghĩa những thành phần đó chứa cái gì. Với XML, các thẻ có thể được lập trình viên tự tạo ra trên mỗi trang web và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 25 được chọn là định dạng thông điệp chuẩn bởi tính phổ biến và hiệu quả mã nguồn mở. Do dịch vụ Web là sự kết hợp của nhiều thành phần khác nhau nên nó sử dụng các tính năng và đặc trưng của các thành phần đó để giao tiếp. XML là công cụ chính để giải quyết vấn đề này và là kiến trúc nền tảng cho việc xây dựng một dịch vụ Web, tất cả dữ liệu sẽ được chuyển sang định dạng thẻ XML.
Khi đó, các thông tin mã hóa sẽ hoàn toàn phù hợp với các thông tin theo chuẩn của SOAP hoặc XML-RPC và có thể tương tác với nhau trong một thể thống nhất. Chất lượng dịch vụ của dịch vụ web 2.1 Chất lượng dịch vụ là gì? Chất lượng dịch vụ - Quality of service (QOS) – là một chỉ số đo lường chức năng kiểm soát và phân bổ băng thông mạng để cung cấp mức dung lượng dữ liệu trong chức năng dự kiến, dựa trên tầm quan trọng của quá trình nghiệp vụ [6]. Khi lưu lượng thông tin quá lớn, chức năng cân bằng tải có thể giúp chuyển hướng dòng thông tin sang server khác và giảm bớt tình trạng tắt nghẽn cổ chai. Một vài bộ chuyển mạch có chức năng phân biệt được dòng thông tin, ví dụ giao thức truyền tập tin FTP, giao thức siêu văn bản HTTP Web mà chúng ta vẫn thường dùng và chuyển hướng chúng theo những quy tắc đã được định trước.
Hiệu quả sử dụng mạng được cải thiện rất tốt, tuy nhiên thực chất ở đâu? QoS cho phép các nhà quản trị điều khiển dòng thông tin ở mức độ căn bản hơn, xác định phương thức để dòng thông tin của một ứng dụng nào đó đi qua các bộ định tuyến và chuyển mạch của mạng. Tuy nhiên, QoS còn liên quan đến nhiều yếu tố khác chứ không chỉ là việc quyết định dòng thông tin nào sẽ đi qua cổng nối trước tiên. Nó là nền tảng cho chính sách vận hành mạng, một chính sách sẽ xác định cách thức sử dụng tài nguyên mạng trong những điều kiện đặc biệt với mức băng thông được phân bổ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 26 Nhà quản trị mạng có thể cung cấp dựa vào giá trị nghiệp vụ của dòng dữ liệu – ví dụ cấp quyền ưu tiên cho giao dịch mua bán cổ phiếu cao hơn yêu cầu thông tin.
Các chính sách cũng có thể nhận biết một vài dòng dữ liệu có thể thay đổi về dung lượng và tầm quan trọng vào những thời điểm khác nhau. Ví dụ, dòng thông tin bán hàng có thể có mức ưu tiên cao hơn của kế toán ngoại trừ những thời điểm vào cuối mỗi quý khi mà bộ phận kế toán phải tính toán và làm báo cáo.2 Tầm quan trọng của QoS đối với dịch vụ web Với sự phát triển nhanh phóng và phổ biến của công nghệ dịch vụ web, Chất lượng các dịch vụ web sẽ trở thành một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá sự thành công của các nhà cung cấp dịch vụ web. QoS sẽ quyết định đến chức năng sử dụng và tính hữu ích của dịch vụ, cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến tính phổ biến của một dịch vụ web. Trong thời đại hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, một yêu cầu đặt ra là phải làm sao có thể tích hợp liền mạch các quy trình thương mại, các ứng dụng thương mại điện tử và các dịch vụ web thông qua môi trường Internet.
Việc đánh giá chất lượng một dịch vụ web là một thách thức lớn, vì môi trường Internet cùng các ứng dụng Web–Base ngày càng phát triển mạnh mẽ, cũng chính vì thế nên các yêu cầu về chất lượng dịch vụ cũng luôn thay đổi và không thể dự đoán theo cách tự nhiên được. Các ứng dụng với các đặc điểm và yêu cầu riêng biệt sẽ cạnh tranh nhau về tài nguyên mạng vốn đã rất hạn chế. Sự thay đổi lưu lượng thông tin trên mạng, tấn công từ chối dịch vụ, ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin yếu kém và vấn đề an ninh cho các ứng dụng Web đã tạo ra sự cần thiết của việc đưa ra các chuẩn chất lượng cho các dịch vụ trên Internet. Thông thường, khi không đáp ứng được các yêu cầu QoS là một nguyên nhân then chốt dẫn tới các giao tác có hiệu suất hoạt động thấp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 27 Với các chuẩn như SOAP, UDDI và WSDL đã được thống nhất sử dụng trong các lĩnh vực của dịch vụ web– bao gồm các dịch vụ tài chính, công nghệ cao, đa phương tiện và giải trí. Tất cả các dịch vụ web đang cần phải được gắn kết với nhau để trở thành chuẩn, QoS sẽ là một yếu tố then chốt để đánh giá sự thành công cũng như sự khác nhau về chất lượng phục vụ của các dịch vụ Web.3 Các yêu cầu về chất lượng dịch vụ của dịch vụ web Các yêu cầu về chất lượng dịch vụ của dịch vụ web phải đáp ứng được các yêu cầu dưới sau [7]: Tính sẵn sàng: Tính sẵn sàng thể hiện một khía cạnh của chất lượng dịch vụ, tính sẵn sàng mô tả dịch vụ có sẵn để dùng tại một thời điểm cụ thể hay không. Tính sẵn sàng mô tả xác suất mà dịch vụ sẵn sàng phục vụ. Trong tính sẵn sàng, một giá trị thời gian được dùng để mô tả liệu một dịch vụ có sẵn sàng để phục vụ hay không.
Nếu giá trị lơn hơn tức là dịch vụ luôn sẵn sàng để sử dụng, ngược lại nếu giá trị nhỏ hơn tức là không thể dự đoán được liệu dịch vụ có sẵn trong khoảng thời gian cụ thể hiện tại hay không. Thông thường, người ta thường sử dụng một đại luợng thời gian để kết hợp với tính sẵn sàng của một dịch vụ, đại lượng thời gian đó được gọi là Thời gian phục hồi (TTR - Time to Repair ). TTR mô tả khoảng thời gian được dùng để phục hồi một dịch vụ web nếu có lỗi xảy ra. Thời gian phục hồi lý tưởng và được mong đợi là thời gian phục hồi có giá trị nhỏ.
Tính truy cập được: Tính truy cập được thể hiện khía cạnh chất lượng dịch vụ qua mức độ, khả năng phục vụ các yêu cầu dịch vụ web. Nó diễn tả khả năng ước lượng bao gồm tốc độ thành công hoặc sự thay đổi thành công của một dịch vụ cụ thể trong một thời điểm. Tính truy cập được còn được thể hiện thông qua tính sẵn sàng của dịch vụ Web. Một dịch vụ web có tính truy cập cao khi hệ thống triển khai dịch vụ web đó có độ mềm dẻo cao.