CHƯƠNG 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: Tổng quan lý luận và phương pháp nghiên cứu về khả năng tiếp cận các dịch vụ của QBLTD đối với DNNVV trên địa bàn TPHCM. CHƯƠNG 3: Thiết kế nghiên cứu. CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về thực trạng về khả năng tiếp cận các dịch vụ của QBLTD đối với DNNVV trên địa bàn TPHCM trong thời gian qua.
CHƯƠNG 5: Giải pháp về khả năng tiếp cận các dịch vụ của QBLTD đối với DNNVV trên địa bàn TPHCM và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ CỦA QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2.1 SƠ LƯỢC VỀ QBLTD ĐỐI VỚI DNNVV 2.1 Khái niệm về QBLTD Bộ Tài chính ban hành Thông tư 147/2014/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của QBLTD cho DNNVV. Theo đó, QBLTD là một tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chức năng bảo lãnh tín dụng cho các đối tượng theo quy định. QBLTD do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý, là tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; thực hiện chức năng bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn bằng đồng Việt Nam tại các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/11/2014 và áp dụng từ năm tài chính 2014.2 Mô hình hoạt động QBLTD có tư cách pháp nhân, có con dấu, có bảng cân đối kế toán riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các TCTD trên cùng địa bàn theo quy định của pháp luật. Quỹ được miễn thuế, nộp thuế theo quy định của pháp luật hiện hành. Vốn điều lệ của QBLTD bao gồm: Vốn do ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp khi thành lập Quỹ tối thiểu là 30 tỷ đồng; Vốn góp của các TCTD; Vốn góp của các doanh nghiệp khác; Vốn góp của các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức đại diện và hỗ trợ DNNVV. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Việc thay đổi vốn điều lệ của QBLTD do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Khi thay đổi vốn điều lệ, QBLTD có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi QBLTD đặt trụ sở chính để theo dõi và giám sát. Các đối tượng được QBLTD cấp bảo lãnh tín dụng là DNNVV theo quy định của pháp luật hiện hành, vay vốn bằng đồng Việt Nam tại các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng muốn được QBLTD xem xét, cấp bảo lãnh, ngoài việc phải đáp ứng một số điều kiện của pháp luật hiện hành như: Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay; tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, không có các khoản nợ đọng nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế khác, còn phải có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại TCTD theo quy định của pháp luật tối thiểu bằng 15% giá trị khoản vay và có tối thiểu 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh. Bảo lãnh của QBLTD bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi khoản vay của bên được bảo lãnh tại bên nhận bảo lãnh. Trong đó, mức bảo lãnh tối đa cho 01 khách hàng được bảo lãnh không vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của QBLTD và tổng mức bảo lãnh tín dụng của Quỹ cho các bên được bảo lãnh tối đa không vượt quá 05 lần so với vốn điều lệ thực có của QBLTD.3 Chức năng của QBLTD QBLTD là một định chế tài chính, một cơ chế hữu hiệu nhằm huy động sức đóng góp của xã hội vào việc hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời cũng là sự thể hiện sự quan tâm tích cực của nhà nước đối với các doanh nghiệp.
Nhưng cũng cần hiểu đúng thực chất về hoạt động chủ yếu của Quỹ này là phát hành các chứng thư bảo lãnh, cam kết với các tổ chức tín dụng để cho vay đối với các doanh nghiệp khi được xác nhận là có phương án kinh doanh hiệu quả, có khả năng thanh toán khoản vay chứ không phải là việc cho vay như các tổ chức tín dụng khác. Như vậy, thực tế chỉ có các DN quá khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay khi không có tài sản thế chấp hoặc bảo đảm thì mới cần đến sự hỗ trợ của Quỹ này. Mặt tích cực còn được thể hiện ở điểm, các thành viên góp vốn cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Quỹ cũng được ưu tiên để bảo lãnh và nhận bảo lãnh cho mình và các đơn vị trong hiệp hội của mình hoặc các đối tượng khác có liên quan để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Bênh cạnh đó, Quỹ cũng có thể cho vay đối với một số doanh nghiệp để giúp họ vượt qua khó khăn, nhưng đây chỉ là hoạt động phụ nhằm bảo toàn và phát triển vốn.
Không phải đến bây giờ, khi QBLTD được hình thành mới giúp cho doanh nghiệp giải quyết khó khăn khi tiếp cận các nguồn vốn vay. Thực tế, nhiều khi nguồn vốn của các ngân hàng nhiều, lãi suất cho vay được hỗ trợ, nhưng doanh nghiệp không thể tiếp cận vì không có tài sản thế chấp, không có các phương án kinh doanh khả thi. Dù nhiều lần tổ chức tập huấn, tuyên truyền động viên, hướng dẫn các thủ tục pháp lý cũng như các phương án kinh doanh hiệu quả làm cơ sở cho việc vay vốn, tuy nhiên chỉ có rất ít doanh nghiệp cung cấp được những dự án đầu tư khả thi. Do vậy, nhiều doanh nghiệp than phiền về sự khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay nhưng bản thân doanh nghiệp không có gì thể chứng minh và bảo đảm được tính hợp pháp và khả thi khi sử dụng nguồn vốn đó.
Xuất phát từ thực trạng trên, QBLTD có bộ phận hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục và pháp lý trong việc xây dựng dự án, phương án SXKD hiệu quả, vừa để giúp họ vay vốn tín dụng, vừa là cơ sở để Quỹ có thể bảo lãnh giúp họ vượt khó khăn. Với sự hình thành QBLTD, các DNNVV có thêm một lực đẩy, một “giá đỡ an toàn” hỗ trợ cho SXKD nhưng không thể chủ quan, ỷ lại trông chờ hết vào sự hỗ trợ này mà làm sai nguyên tắc, kinh doanh trái với mục đích, đạo lý hoặc lơ là quản lý …dẫn đến thiệt hại cho nhà nước và xã hội.4 Sự cần thiết của QBLTD cho DNNVV Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nhất là đối với các DNNVV rất khó khăn do không có tài sản thế chấp. Thực tế, không ít doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả, có dự án khả thi cần vay vốn ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng không đủ điều kiện tín chấp và tài sản thế chấp nên đành hoạt động cầm chừng, mất cơ hội phát triển; khá nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất tạm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 dừng hoạt động hoặc giải thể, phá sản; một số dự án sản xuất mới, nâng công suất dự kiến đầu tư của doanh nghiệp do khó khăn về vốn đã bị tạm ngừng hoặc không thể triển khai thêm; không phát huy được tính tích cực đóng góp vào sự phát triển của đất nước. QBLTD cho DNNVV ra đời được xem là giải pháp tối ưu cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn vay.
QBLTD được xem là cầu nối giữa ngân hàng với các DNVVN không có tài sản thế chấp, chưa có khả năng đáp ứng các điều kiện về bảo đảm tiền vay nhưng có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi.2 KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CỦA QBLTD ĐỐI VỚI DNNVV CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 2.1 QBLTD tại một số nước châu Á (Trung Quốc, Malaysia, Singapore.) Đông Nam Á thường được biết đến là một trong những khu vực có sự phát triển kinh tế sôi động nhất trên thế giới với phần lớn các nước thành viên là các nền kinh tế đang phát triển. Thành công của các nền kinh tế trong khu vực này đánh dấu sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, gia tăng sự tăng trưởng kinh tế và huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào quá trình đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, DNNVV cũng được xem là nhân tố đo lường sự tác động của các chính sách kinh tế mới được ban hành có tác động như thế nào khi đưa vào triển khai thực tế đối với cộng đồng doanh nghiệp. Tại Đông Nam Á, 98% tổng số doanh nghiệp là DNNVV và 80% lao động trung bình của mỗi quốc gia tính từ năm 2012-2015 hiện đang làm việc trong các DNNVV.
Tính đến cuối năm 2015, thống kê tại một số nền kinh tế điển hình cho thấy: - Malaysia có mức độ tăng trưởng DNNVV đạt 9,5% và hàng năm đóng góp trung bình 45% GDP; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 - Thái Lan hiện có 6 triệu DNNVV, chiếm trên 99% tổng số doanh nghiệp trong nước, thu hút 15,7 triệu lao động, chiếm 80% tổng số người làm việc, giá trị sản lượng đạt 5 nghìn 650 tỉ Bạt, chiếm 45,8% GDP; - Singapore trong 10 người làm việc thì có 7 người làm ở DNNVV, tỉ lệ đóng góp của DNNVV đối với kinh tế quốc dân vượt quá 50%; Nhận thức được vai trò quan trọng và những đóng góp tích cực cho nền kinh tế của DNNVV, các nước Đông Nam Á chú trọng đến việc phát triển DNNVV theo hướng tạo điều kiện về mặt chính sách và triển khai các biện pháp hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay. Dưới đây là một số quốc gia điển hình trong các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay và đã thành công trong quá trình triển khai thực hiện, cụ thể như: Malaysia: Hệ thống bảo lãnh tín dụng đa dạng, linh hoạt và hiệu quả DNNVV của Malaysia chủ yếu hoạt động trên 2 nhóm lĩnh vực chính: Nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và Công nghiệp, xây dựng.