Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Năng Lượng Exciton Trong Đơn Lớp Phosphorus Đen Khi Có Mặt Của Từ Trường

Khóa luận nghiên cứu về năng lượng exciton trong đơn lớp bp bất đẳng hướng dưới tác động của từ trường, mang lại hiểu biết mới cho vật lý.

Chuyên ngành

Vật lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

61
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Lịch sử phát triển mô hình

1.2. Khái niệm

1.3. Phân loại

1.4. Vật liệu BP (Black phosphorus)

1.5. Exciton và khái niệm khối lượng hiệu dụng trong đơn lớp BP

1.6. Tương tác giữa điện tử và lỗ trống — thế năng Keldysh

2. CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH TÍNH TOÁN

2.1. Hamiltonian cho hệ điện tử - lỗ trống

2.2. Xây dựng Hamiltonian cho chuyển động tương đối điện tử-lỗ trống

2.3. Vector giả động lượng và sự bảo toàn của vector giả động lượng

2.4. Giảm tính dị hướng trong Hamiltonian

2.5. Phương trình qua phép biến đổi Levi-Civita

2.6. Biểu diễn đại số qua các toán tử sinh, hủy

2.7. Lý thuyết nhiễu loạn có điều tiết với gần đúng bậc không

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả bài toán

3.2. Thảo luận

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khóa luận tốt nghiệp vật lý năng lượng exciton

Khóa luận tốt nghiệp về vật lý năng lượng exciton trong đơn lớp BP bất đẳng hướng khi có mặt của từ trường là một chủ đề nghiên cứu quan trọng. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các tính chất của exciton mà còn mở ra hướng đi mới cho các ứng dụng trong công nghệ vật liệu hai chiều. Đặc biệt, phốt-pho đen (BP) là một trong những vật liệu 2D có tiềm năng lớn trong lĩnh vực quang điện tử.

1.1. Khái niệm về exciton và vai trò trong vật liệu 2D

Exciton là một chuẩn hạt được hình thành từ cặp điện tử và lỗ trống trong vật liệu. Trong các vật liệu 2D như BP, exciton có vai trò quan trọng trong việc xác định các tính chất quang học và điện tử của vật liệu.

1.2. Tại sao nghiên cứu đơn lớp BP là cần thiết

Nghiên cứu đơn lớp BP giúp khám phá các tính chất độc đáo của vật liệu này, đặc biệt là trong điều kiện bất đẳng hướng. Điều này có thể dẫn đến những ứng dụng mới trong công nghệ nano và điện tử.

II. Thách thức trong nghiên cứu năng lượng exciton trong BP

Nghiên cứu về năng lượng exciton trong đơn lớp BP đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là tính bất đẳng hướng của vật liệu, điều này ảnh hưởng đến các tính toán và mô hình lý thuyết. Hơn nữa, sự tương tác giữa điện tử và lỗ trống trong môi trường từ trường cũng làm phức tạp thêm bài toán.

2.1. Tính bất đẳng hướng và ảnh hưởng đến năng lượng exciton

Tính bất đẳng hướng trong BP dẫn đến sự khác biệt trong khối lượng hiệu dụng của điện tử và lỗ trống. Điều này cần được xem xét kỹ lưỡng trong các mô hình tính toán năng lượng exciton.

2.2. Tác động của từ trường đến exciton trong BP

Sự hiện diện của từ trường có thể làm thay đổi các mức năng lượng của exciton trong BP. Nghiên cứu này cần phải sử dụng các phương pháp tính toán chính xác để dự đoán các hiệu ứng này.

III. Phương pháp nghiên cứu năng lượng exciton trong BP

Để nghiên cứu năng lượng exciton trong đơn lớp BP, các phương pháp lý thuyết và tính toán được áp dụng. Sử dụng Hamiltonian cho hệ điện tử-lỗ trống là một trong những phương pháp chính. Bên cạnh đó, lý thuyết nhiễu loạn có điều tiết cũng được áp dụng để đạt được độ chính xác cao trong các tính toán.

3.1. Xây dựng Hamiltonian cho hệ điện tử lỗ trống

Hamiltonian cho hệ điện tử-lỗ trống được xây dựng dựa trên các yếu tố như khối lượng hiệu dụng và tương tác Coulomb. Điều này giúp mô tả chính xác các trạng thái của exciton trong BP.

3.2. Ứng dụng lý thuyết nhiễu loạn có điều tiết

Lý thuyết nhiễu loạn có điều tiết cho phép tính toán các mức năng lượng exciton với độ chính xác cao. Phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả trong nhiều nghiên cứu trước đây.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lượng exciton trong đơn lớp BP thay đổi theo từ trường. Các mức năng lượng được tính toán cho thấy sự phù hợp với các kết quả thực nghiệm. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho các ứng dụng trong công nghệ quang điện tử và cảm biến.

4.1. So sánh kết quả với các nghiên cứu trước

Kết quả nghiên cứu được so sánh với các công trình trước đó, cho thấy sự nhất quán và độ tin cậy của phương pháp tính toán đã sử dụng.

4.2. Ứng dụng trong công nghệ quang điện tử

Năng lượng exciton trong BP có thể được ứng dụng trong các thiết bị quang điện tử, mở ra hướng đi mới cho công nghệ nano và điện tử.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu về năng lượng exciton trong đơn lớp BP bất đẳng hướng khi có mặt của từ trường đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn. Hướng phát triển tương lai có thể bao gồm việc tìm kiếm các giải pháp chính xác hơn cho bài toán này.

5.1. Tóm tắt kết quả chính

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lượng exciton trong BP có sự thay đổi đáng kể khi có mặt của từ trường, điều này cần được tiếp tục nghiên cứu.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các mô hình tính toán chính xác hơn và mở rộng nghiên cứu sang các vật liệu 2D khác.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Lịch sử phát triển mô hình Phô hap thụ đầu tiên của exciton đã được Becquerel tìm thấy trong thực nghiệm vào năm 1907 ở tinh thê khí hiểm và trong tinh thé phân tử bởi Obreimov va De Haas vào năm 1929. Sự xuất hiện các đỉnh lạ trong phổ hap thụ của hai tinh thé trên được giải thích bởi Yakov Frenkel khi ông lần đầu đưa ra khái niệm “exciton” vào năm 1931, va sau đó được ông tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong các công trình tiếp theo. Tuy nhiên mô hình của ông chi phù hợp khi mô tả với exciton trong chat cách điện.

Mô hình này được gọi là exciton Frenkel hay exciton phân tử (Benstead et al. (Nolan et al. Năm 1937, một mô hình exciton khác được đẻ xuất bởi hai nhà khoa hoc Nevill Francis Mott va Gregory Wannicr, được gọi là exicton Wannier-Mott. Mô hình exciton này được tạo thành bởi tương tác Coulomb giữa điện tử và lỗ trống, tương tự như nguyên tử hydro và tồn tại trong chat bán dan (Benstead et al., 2016), (Nolan et al.

Năm 1951, phố hap thy exciton Wannier-Mott được Gross tìm thay khi ông nghiên cứu tinh thê Cu20. Ông đã phát hiện ra các tính chat khác thường của exciton trong điện trường và từ trường cũng như trong việc hình thành khả năng phát quang, quang dẫn (Gross etal. Năm 1958, nhà khoa học Lampert tiên đoán về kha năng tôn tại của exciton mang điện, ví đụ như hai điện tử kết hợp với một lỗ trồng thì exciton có điện tích âm (exciton âm) hay hai lỗ trong kết hợp với một điện tử thi exciton có điện tích đương (exciton dương). 10 Tuy nhiên ông cũng đề cập exciton mang điện sẽ không được tìm thấy ở hâu hết các vật liệu do exciton có năng lượng liên kết quá nhỏ trong không gian của các vật liệu bán dẫn ba chiều (Lampert.

Phé năng lượng của exciton âm cũng được quan sát bang thực nghiệm vào những năm 90 trong giếng lượng tử pha tạp khi sự chênh lệch mật độ giữa điện tử và lỗ trồng rất lớn (Lampert., 1958), (Finkelstein et al., 1996), (Astakhov et al. Khai niém va phan loai exciton 2.1 Khái niệm Bên trong những vật liệu hai chiều này tồn tại một chuẩn hạt (quasi-particle) được gọi là exciton. Exciton được cau thành bởi cặp điện tử và lỗ trống. Khi điện tử bị kích thích, nó vượt qua vùng hoá trị và lên vùng dẫn dé lại một lỗ trống ở vùng hoá trị.

Nếu sau khi được giải phóng lên vùng dẫn mà điện tử vẫn còn liên kết với lỗ trong ta sẽ có được một exciton với cầu trúc năng lượng gián đoạn. Trong vùng hoá trị, các điện tử khác có thé lấp day lỗ trông do điện tử ban dau dé lại và hình thành lỗ trống mới, nói cách khác lỗ trồng đã "đi chuyên" sang vị trí mới kéo theo sự dịch chuyên của exciton. Với nhiều nghiên cứu người ta thay rằng exciton xuất hiện rất nhiều trong vật liệu hai chiều, việc nghiên cứu exciton, cụ thé là năng lượng của nó cho phép ta trích xuất được các thông II tin của vật liệu hai chiêu mà ta nghiên cứu như: độ dài chan, hang sô điện môi, khôi lượng hiệu dụng.2Phân loại Trong chat cách điện — exciton Frenkel Trong chất cách điện, hằng số điện môi rất lớn nên điện tử và lỗ trong tương tác với nhau ở khoáng cách phân tử. Các exciton phân tử thậm chí có thé nằm hoàn toàn trên cùng một phân tử, như trong fullerene.

Loại exciton nay được đặt tên theo Yakov Frenkel nên được gọi là exciton Frenkel, có năng lượng liên kết điển hình vào khoảng 0,1 đến 1 eV. Trong chất ban dẫn — exciton Wannier-Mott Trong chất bán dan, điện tử và lỗ trồng vẫn tương tác với nhau nhưng các điện tử có thê tương tác tự đo khắp không gian mạng. Kết quả là một exciton có bán kính lớn hơn khoảng cách mạng tinh thể. Khối lượng electron hiệu dụng nhỏ điền hình của chat bán dan cũng có bán kính exciton lớn.

Ảnh hưởng của thé mạng tinh thê có thê được tích hợp vào khói lượng hiệu dụng của electron và lỗ trống (Wannier. Loại exciton này được đặt theo tên của Gregory Wannier và Nevill Francis Mott, được gọi là exciton Wannier-Mott (hay còn gọi là exciton lớn). Các exciton Wannier-Mott thường được tim thấy trong các tinh thé bán dẫn có khe năng lượng nhỏ và hang số điện môi cao Hình 2. Kha seenge sane Hình 2 Exction Wannier-Mott (trai) va exciton Frenkel (phải).

Vật liệu hai chiều (2D) 3. Wallace là người đầu tiên nêu lên cấu trúc về vùng năng lượng và những đặc tính dị thường của graphene. Những nghiên cứu lý thuyết về graphene đã xuất hiện từ những năm 40 của thế kỉ 20, tuy nhiên nghiên cứu vẻ thực nghiệm thì chưa được quan tâm và phát trién bởi những nhà khoa học cho rang cau trúc tinh thê hai chiều với bề day bằng nguyên tử không tén tại và các thiết bị kĩ thuật thời bay giờ không đủ tiên tiền để Cho đến năm 2004, hai nhà khoa học người Nga là Kostya Novoselov và Andre Geim (thuộc trường đại học Manchester — Anh) đã chứng minh sự tồn tại của graphene bằng những nghiên cứu thực nghiệm. Và công trình này đã được trao giải thướng danh giá Nobel Vật Lý vào năm 2010.

Graphite flakes Hai nhà khoa học đã sử dung dụng wit cu vô cùng đơn giản là bang dính dé Hinh 3 Quy trinh "Bang keo" duge bao cao boi Novoelov va Geim (2004). phát hiện ra vat liệu graphene. Andrei Geim, Konstantin và các cộng sự đã đặt mảnh than chì lên miếng băng dính, dán hai đầu băng keo lại với nhau, rồi mở băng keo,.Quá trình này được lặp lại nhiều lần khiến mảnh than chì được tách ra từng lớp và mong dan. Sau đó họ nhúng lớp than chì vào silicon, thu được lớp than chì mỏng nhất và có độ day của một nguyên tử cacbon.

Day là quả trình ra đời của vật liệu graphene, đây la vật liệu cứng hơn cả kim cương. cực bên, dẫn nhiệt và dẫn điện cực tốt. 13 Graphene là vật liệu mới. chỉ mới bat đầu nghiên cứu trong những năm gần đây, với độ dày chi kích c& của nguyên tử, khi được phát hiện và đưa vào ứng dụng đã mở ra một thời đại công nghệ mới, thời đại công nghệ hai chiều (2D).2 Vật liệu BP (Black phosphorus) Phốt-pho đen (Black Phosphorus — BP) là dạng phốt-pho ôn định nhiệt động ở nhiệt độ và áp suất phòng.

Tương tự như graphene, nó thu được bằng phương pháp băng dính (Li et al. BP có nhiều dạng thù hình, phô biến nhất là phốt-pho trắng và phốt-pho đỏ, tuy nhiên, BP ôn định về mặt nhiệt động và là đạng thù hình mà chúng ta sẽ thực biện tính toán (Hui et al. BP là một chat dẫn điện và có các nguyên tử liên kết với nhau theo từng lớp (Avsar et al. Các loại hạt và chuẩn hạt như photon, electron, phonon, exciton trong cau trúc BP hoạt động theo nguyên lí dị hướng cao trong mặt phang của các lớp, ngoài ra BP còn có năng lượng vùng cắm trong khoảng 0.3 eV khi ở dạng khối và 2.0 eV ở dang đơn lớp, BP nằm hoàn hảo giữa graphene với vùng cắm băng không và TMDs 14 với cùng cam nam trong khoảng 1.5 eV (Hui et al.2019), thé hiện tiềm nang mạnh mẽ của BP cho các ứng dụng điện tử mang mỏng và quang điện tử hồng ngoại (Li et al., 2014), (Prada et al.

Đặc biệt, trong thời gian gan đây, exciton trong đơn lớp BP (Henriques et al,2020), (Wu et al., 2022) cũng như các loại vật liệu bat ding hướng khác (Li et al., 2020) được quan tâm nghiên cứu. Cấu trúc của Black phosphorus BP có cau trúc hệ tinh thé trực thoi va là loại thù hình ít phản ứng nhất, là sản phẩm của mạng gồm sáu vòng liên kết với nhau, trong đó mỗi nguyên tử được liên kết với ba nguyên tử khác. (Brown et al., 1965) (Cartz et al. Sự tang hợp áp suất cao dau tiên của tinh thé phốt-pho den được thực hiện bởi nhà vật lý Percy Williams Bridgman vao năm 1914., 1914) Một tông hợp gan đây của phốt-pho den sử dụng muỗi kim loại làm chất xúc tác đã được báo cáo (Lange et al.

Trong hình 5 có thé thấy, cau trúc tinh thé của đơn lớp BP có dang tô ong gap nếp, hơn nữa không có sự đối xứng giữa hai phương Ox va Oy, điều này cho thay cau trúc của BP là bất đăng hướng. Điều nay dẫn đến việc hằng số mang và các thông số khác trên phương Ox va Oy là khác nhau, dan đến thé năng tuần hoàn trên hai phương này cũng là khác nhau, Việc áp dụng gần đúng khối lượng hiệu dụng cũng phải được điều chỉnh — khối lượng hiệu dụng trên hai phương là không giống nhau (Bao et al.3 Exction và khái niệm khối lượng hiệu dụng trong đơn lớp BP ựr) Hình 6 Thế tuần hoàn gây ra bởi các nút mang tinh thé. Đối với các vật liệu đăng hướng, do có sự đối xứng giữa trục Ox va Oy dan đến thé tuân hoàn là như nhau theo cả hai phương. Hình trên thé hiện một thế tuần hoàn được tao bởi các ion dương đặt có định trong không gian.

Exciton hình thành và đi chuyển trong môi trường 2D gồm rất nhiều ion đương đặt cô định trong một mạng tinh thé (Mueller ct al. Khi này nếu xét chính xác, ta phải kể đến hiệu ứng do toàn bộ các ion đương này tạo ra, hay nói cách khác là tác động gây ra bởi một thể tuần hoàn vô hạn. Điều này là rất khó khăn trong tính toán. Dé tránh việc đó, trong các công trình (G., 1956), (Nguyen at al., 2019), (Ly et al., 2023) đã phát trién mô hình tính toán gan đúng bằng khái niệm khối lượng hiệu dụng, tuy là gần đúng nhưng kết quả rất chính xác và được so sánh với thực nghiệm trong các công trình ấy.

Kết quả cho thấy sử dụng khái niệm gần đúng khối lượng hiệu dụng là đáng tin cậy. Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu vẻ exciton trong vật liệu phốt-pho đen. Khác với TMDC và các vật liệu có cấu tạo dang hướng. đơn lớp phốt-pho đen có cấu tạo dạng tô ong gap nếp dẫn đến tính bat đối xứng cao.

Điều này dẫn đến việc khi viết Hamiltonian, ta phải xét đến sự bat đăng hướng dé là khôi lượng hiệu dụng của exciton trên phương Ox va Oy là khác nhau (Bao et al. Đã có những nghiên cửu tiếp cận có thẻ kê đến như phương pháp biến phân trong công trình (Lengers et al., 2021) khi cho phép nghiên cứu các trạng thái với mức năng lượng 16 cơ bản va trạng thái kích thích thấp. còn trong công trình (Choi et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc của exciton trong các vật liệu hai chiều, đặc biệt là trong bối cảnh từ trường đều. Mặc dù không có tiêu đề cụ thể, nội dung của tài liệu hứa hẹn sẽ mang lại những kiến thức quý giá cho những ai quan tâm đến vật lý và công nghệ vật liệu mới. Độc giả sẽ được khám phá các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng của exciton, từ đó mở rộng hiểu biết về các hiện tượng vật lý phức tạp.

Để tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Khóa luận tốt nghiệp vật lý trích xuất thông tin cấu trúc của đơn lớp tmdc từ phổ năng lượng exciton hai chiều đặt trong từ trường đều sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc exciton trong các vật liệu này. Bên cạnh đó, Khóa luận tốt nghiệp sư phạm vật lý phương pháp toán tử fk giải phương trình schrodinger cho exciton hai chiều trong điện trường đều cung cấp cái nhìn về phương pháp giải quyết các bài toán liên quan đến exciton. Cuối cùng, Khóa luận tốt nghiệp sư phạm vật lý áp dụng phương pháp đại số cho bài toán exciton trong đơn lớp tmd đặt trong từ trường đều sẽ mở rộng thêm kiến thức về ứng dụng của phương pháp đại số trong nghiên cứu exciton. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn đào sâu hơn vào lĩnh vực này.