Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Nhận diện văn hóa làng và những kiểu nhân vật đặc trưng trong truyện ngắn Kim Lân 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Đặc trƣng văn hóa làng xã Việt Nam Việt Nam là một đất nước giàu truyền thống văn hóa. Nét nổi bật khi nói đến văn hóa Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định: Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất và đa dạng. Việt Nam là một nước nông nghiệp.
Vì vậy, văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp, cụ thể là văn hóa nông nghiệp lúa nước. Trong đó, văn hóa làng xã là kết tinh đậm đặc những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam. Về cơ bản thì các khái niệm về làng xã được đưa ra khá thống nhất, dưới đây là một số khái niệm do các nhà nghiên cứu đưa ra: Theo Từ điển tiếng Việt: “Làng là đơn vị hành chính ở nông thôn, cũng thường gọi là xã hay làng xã, làng xóm” [6]. Phan Huy Lê thì: “Làng xã cổ truyền là đơn vị tự cư, là cộng đồng dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống, là môi trường sinh hoạt văn hóa - xã hội từ bao đời nay gắn bó với cuộc sống của người dân Việt Nam…” [10, 126].
Tìm hiểu khái niệm làng, tác giả Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Làng là đơn vị cộng cư cơ bản nhất của người Việt. Làng Việt được thoát thai từ công xã nguyên thủy và sau đó là công xã nông thôn” [14, 106]. Theo các quan niệm trên, chúng ta có thể thấy: Làng xã trước hết là một đơn vị cộng cư cơ bản. Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp.
Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng quê. Hình ảnh làng với luỹ tre xanh, cây đa, giếng nước, sân đình đã trở nên rất thân thuộc trong 7 tâm hồn người Việt Nam. Lật lại những trang sử của ngành kiến trúc Việt Nam, người ta thấy rằng kiến trúc Việt Nam ra đời rất sớm, có thể đã xuất hiện từ thời vua Hùng dựng nước, cách nay khoảng bốn ngàn năm. Làng xóm cũng xuất hiện vào thời kỳ này.
Làng Việt Nam là sự tích hợp của những gia đình với nhiều phương thức và quan hệ khác nhau, ít thì dăm bảy chục, nhiều thì vài trăm hộ, có quỹ đất, tín ngưỡng và phong tục tập quán riêng. Làng là sự liên kết chặt chẽ dòng họ, giáp phe, phường hội… Các nhà kiến trúc cho rằng làng xã Việt Nam có tính quần thể cao, có kiểu kiến trúc đơn giản nhẹ nhàng phù hợp với khí hậu và tập quán của người Việt Nam. Làng luôn được bao quanh bằng những luỹ tre xanh. Sau luỹ tre xanh là những mái nhà tranh ấm cúng, nơi cưu mang che chở cho con người.
Làng Việt là một thành tố quan trọng trong cơ cấu xã hội Việt Nam, nổi lên là gia đình (nhà) – làng – nước, với hai đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị. Văn hóa làng Việt Nam là hiện tượng lịch sử cũng là hiện tượng dân tộc. Văn hóa làng vốn có từ ngàn xưa nhưng vẫn tồn tại đến ngày nay với sự ngưng kết đậm đặc biểu hiện trong lối sống, phong tục tập quán, kho tàng văn hóa dân gian, tín ngưỡng – tôn giáo…Văn hóa làng còn chứa đựng những giá trị vật chất đình, chùa, miếu, lũy tre, bến nước, cây đa,…Tất cả “những yếu tố vật thể và phi vật thể trên không đứng đơn lập, rời rạc mà hòa quyện vào nhau, tích hợp lại thành bản sắc văn hóa làng, lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau như một dòng chảy không bao giờ dứt” [13]. Khi nói về văn hóa làng, các nhà nghiên cứu đã nêu bật được hai đặc trưng cơ bản đó là: Tính cộng đồng và tính tự trị.
Làng xã Việt Nam mang tính cộng đồng Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên tính cộng đồng làng xã. Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Tính cộng đồng 8 là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới người khác - nó là đặc trưng dương tính hướng ngoại” [4]. Người Việt Nam ta vốn xưa nay quen lối sống tình cảm. Mối quan hệ làng xã khiến người ta phải gắn bó với nhau, phải giữ gìn được quan hệ trong ấm ngoài êm, sống có tình có nghĩa có tình với nhau.
Chỉ có thế người ta mới có thể duy trì được sự cố kết của cộng đồng. Sự duy trì này không chỉ diễn ra trong những cộng đồng theo huyết thống như gia đình, dòng họ mà ở cả những cộng đồng theo quan hệ láng giềng với nhau: ngõ, xóm, làng, vùng miền… Mặt khác, tính cộng đồng có vai trò gắn kết các thành viên trong làng lại với nhau thông qua các biểu tượng mang tính truyền thống như cây đa, bến nước, sân đình. Hầu hết, mọi làng của người Việt đều hội tụ cả ba biểu tượng này. Như vậy, tính cộng đồng đóng một vai trò rất lớn trong đời sống sinh hoạt của người dân làng xã.
Tính cộng đồng nhấn mạnh vào sự đồng nhất cùng họ là đồng tộc, cùng tuổi là đồng niên, cùng nghề là đồng nghiệp, cùng quê là đồng hương. Do sự đồng nhất giống nhau “cùng hội cùng thuyền” cho nên mọi người luôn sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh em, chị em trong nhà “tay đứt ruột xót”, “chị ngã em nâng”… Điều đó làm cho các quan hệ tình cảm của các thành viên trong làng xã thêm gắn bó. Đặc biệt trong khó khăn, họ có thể hi sinh cho cộng đồng, trước hết là gia đình, dòng họ, làng xóm sau đó là đất nước. Vì vậy đã tạo nên sức mạnh quật cường tính tập thể rất cao, mọi người trong cộng đồng đều gắn bó tập thể.
Sự đồng nhất cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ, bình đẳng bộc lộ trong các nguyên tắc tổ chức nông theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp. Làng xã Việt Nam mang tính chất tự trị Cùng với tính cộng đồng, tính tự trị cũng là một đặc trưng gốc rễ trong văn hoá làng của người Việt. Tính tự trị nhấn mạnh vào sự khác biệt. Đối với làng, biểu tượng truyền thống của tính tự trị là luỹ tre làng.
Luỹ tre trở thành thành luỹ kiên cố của làng bất khả xâm phạm. Đối với người Việt, bên ngoài luỹ tre làng là cả một thế giới khác cho nên có người cả đời không bước ra khỏi luỹ tre làng. Do tính chất khép kín dẫn đến làng người Việt luôn mang trong mình tính bảo thủ, địa phương cục bộ “Trống làng nào làng đấy đánh”, “Thánh làng nào làng nấy thờ” hay “Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Tính tự trị cũng tạo cho người Việt tính gia trưởng tôn ti hay óc bè phái tư hữu ích kỷ.
Bởi vậy trong làng, người ta coi trọng tôn ti, họ to họ nhỏ, con trưởng con thứ, tư tưởng thứ bậc, thói gia đình chủ nghĩa. Khởi đầu là sự khác biệt của cộng đồng (làng, họ) này so với cộng đồng (làng, họ) khác. Sự khác biệt – cơ sở của tính tự trị, tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập thể hoạt động độc lập với tập thể khác, phải tự lo liệu lấy mọi việc. Vì phải tự lo liệu, nên con người Việt Nam có truyền thống cần cù, có tính chịu thương chịu khó đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.
Nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi nhà có vườn rau, chuồng gà, ao cá tự đảm bảo nhu cầu về ăn, có bụi tre, rặng xoan, gốc mít tự đảm bảo nhu cầu về chỗ ở. Tóm lại, với đặc trưng vừa mang tính cộng đồng vừa mang tính tự trị cho nên làng của người Việt có tinh thần đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau nhưng cũng luôn khép kín bảo thủ. Như vậy: “làng là tổ chức xã hội cơ sở đặc biệt của người Việt mà từ đó tạo nên tính cách của người Việt, mà một trong những tính cách mạng, tính truyền thống ngàn đời đó chính là ý thức độc lập và lòng yêu nước” [18]. Tính cộng đồng làng xóm tạo nên tinh thần đoàn kết toàn dân.
Xét một cách sâu xa, tinh thần đoàn kết toàn dân, ý thức độc lập dân tộc và 10 lòng yêu nước được xuất phát và hun đúc từ truyền thống làng của người Việt Nam. Tác giả Kim Lân 1. Cuộc đời Kim Lân (1920-2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là làng Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Xuất thân từ một gia đình nghèo, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm.
Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện (Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa…) mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó. Sớm giác ngộ Cách mạng nên từ năm 1944, Kim Lân đã tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc cùng với Nguyên Hồng, Nam Cao (những người bạn thân thiết, đồng tâm của ông).
Cuộc kháng Pháp nổ ra, ông tiếp tục có mặt trong phong trào Văn hoá cứu quốc, công tác ở các báo Chi Lăng (Khu ủy khu XII), Xông pha (Quân đội khu XII), Dân quân Việt Bắc, Hội Văn nghệ Việt Nam, Báo Văn nghệ. Kim Lân là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Ông gắn bó với nghiệp làm báo, viết văn, và khẳng định mình ở mảng truyện ngắn với những trang viết sâu sắc về làng quê Việt Nam, phản ánh sinh động đời sống tâm tư, tình cảm của người nông dân trong giai đoạn kháng chiến và sự đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất. Ông cũng là một trong nhiều nhà văn có tác phẩm được đưa vào nhà trường giảng dạy từ rất sớm: Vợ nhặt, Làng.
11 Từ sau năm 1960, hầu như Kim Lân gác bút trên văn đàn. Ở tuổi 40 với nghệ thuật viết truyện ngắn bậc thầy, cái việc gác bút của ông được coi là chuyện lạ với mọi người. Thay vào việc viết văn, ông làm việc biên tập sách và đào tạo thế hệ nhà văn trẻ.