Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về hoa cúc 1.1 Phân loại thực vật và đặc điểm hoa cúc. Cây hoa cúc là một trong những loại cây được trồng làm cảnh lâu đời và quan trọng nhất trên thế giới. Hoa cúc có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản, các nhà khảo cé học Trung Quốc đã chứng minh rằng từ đời Không Tử người ta đã dùng hoa cúc dé mừng lễ thang lợi và cây hoa cúc đã đi vào các tác phẩm hội họa, điêu khắc từ đó. Ở Nhật Bản cúc là một loại hoa quý (quốc hoa) thường được dùng trong các budi lễ quan trọng, người Nhật Bản coi cúc là người bạn tâm tình (Đặng Văn Đông và ctv, 2003).
Theo Nguyễn Xuân Linh (2002), ở Việt Nam cúc lá nhám hiện có 5 loài và trên thế giới có 200 loài. Chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bán và Thái Lan. Sử dụng làm hoa nên và cây cảnh. Tên khoa học: Zinnia elegans Lớp 2 lá mam: Dicotyledones Lớp: Asterydae Bộ: Asterales Họ: Asteraceae Chi: Zinnia sp.2 Dac diém thwe vat hoc Theo Pham Van Dué (2005) dac điểm thực vat học của cúc lá nhám được mô ta cụ thê như sau: - Ré Ré thuộc loại ré chùm it ăn sâu, ré it ăn sâu mà phát triên theo chiêu ngang nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh.
11 - Thân Hoa cúc thuộc loại thân thảo, phân nhánh mạnh, chiều cao của cây phụ thuộc vào đặc tính giống, khi tác động chế độ ánh sáng cây cúc có thé cao trên một mét. - Lá Lá cúc chia thùy, có răng cưa to, sâu, thường là lá đơn mọc so le nhau, mặt dưới lá bao phủ bởi một lớp lông tơ, mặt trên nhẫn, gân lá hình mạng lưới. Mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh. Phiến lá có thể to hay nhỏ, màu sắc xanh hay đậm, lá dày hoặc mỏng còn phụ thuộc vao đặc tính cua từng giống.
- Hoa Hoa cúc chính gồm nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng mà mỗi cánh thực chất là một bông hoa. Tràng hoa dính vào bầu như hình ống, trên ống phát sinh cánh hoa. Hoa có thể lưỡng tính hay đơn tính. Hoa kép nhiều hơn hoa đơn và thường mọc nhiều hoa trên một cành phát sinh từ các nách lá.
Hoa và cánh hoa có nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau tùy thuộc vào đặc tính từng giống. - Hạt Quả là loại quả bế khô, chỉ chứa một hat, hạt có phôi thang và không có nội nhũ.2 Sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc. Theo công ty Hạt giỗng hoa Việt Nam FVN (2020), các thời kì sinh trưởng, phát triên của cây cúc lá nhám gôm: Giai đoạn nảy mầm: Giai đoạn này nên ngâm hat trong nước am từ 6 — 12 giờ, có nhúng qua dung dịch B1 (nồng độ 500 ppm), vớt ra ủ để kích thích hạt nhanh nảy mam, pH phù hợp cho giai đoạn này là 5,5 — 6,2. Sau giai đoạn nảy mầm, rễ bắt đầu phát triển mạnh.
Ở giai đoạn này độ âm vừa phải sẽ giúp cây phát triển tốt, nếu 4m độ quá cao sẽ làm cây dé bị nam bệnh tan công ngược lại âm độ thấp sẽ không đủ điều kiện cho cây phát triển. Ánh sáng không cần thiết, dé trong bóng ram. Nhiệt độ cần thiết từ 21 — 24°C. EC < 0,5, nếu lớn hon sẽ dé làm chết rễ.
12 Giai đoạn hình thành lá mầm: Sau khi ngâm ủ từ 3 — 5 ngày cúc lá nhám bắt đầu nảy mầm, hình thành 2 lá mầm đầu tiên. Ở giai đoạn này, cây bắt đầu cần ánh sáng. Tuy nhiên, cần che sáng 75% do cây nhỏ chưa thích nghỉ với ánh sáng mạnh. Ở giai đoạn này chưa nên bón phân, nếu có bón phân thì chủ yếu là vi lượng chứa Canxi cho ré cứng cáp.
Giai đoạn hình thành lá thực: Sau khi nảy mam từ 6 — 8 ngày cây bat đầu hình thành từ 2 — 3 cặp lá thực. Ở giai đoạn này, ánh sáng thật sự cần thiết, tiến hành sang chậu cho cây. Từ khay ươm cho ra chậu có kích cỡ to hơn dé giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn. Có thể sử dụng chất kích thích sinh trưởng ra rễ, ra nhánh là cần thiết cho giai đoạn này.
Sâu bệnh hại cũng phát triển mạnh ở giai đoạn này, đặc biệt là sâu ăn lá, sâu cuốn lá, bọ trĩ. Nên việc giữ cho lá ít bị am ướt cũng giúp cây ít bị nam bénh tan cong. Giai đoạn ra nụ hoa: Sau khi sang chậu từ 25 — 32 ngày, cây bắt đầu cho những nụ ở thân chính, sau đó cho các nụ ở cành phụ. Ở giai đoạn này nên bón phân Kali dé kich thich ra hoa.
Néu chiéu sang lién tuc cay sé han ché ra hoa. Ché d6 dinh dưỡng cân đôi sẽ giúp hoa ra liên tục và bên màu.3 Yêu câu ngoại cảnh của cay hoa cúc.1 Nhiệt độ Về yếu tố nhiệt độ của cúc lá nhám cũng như các giống hoa cúc nói chung có nguồn gốc ôn đới, nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 15 — 20°C, cây có thé chịu đựng ở nhiệt độ từ 10 — 35°C, nhưng nhiệt độ trên 35°C và dưới 10°C sẽ làm cho cúc lá nhám sinh trưởng phát triển kém. Ở thời kỳ cây con yêu cầu nhiệt độ cao hơn. Đặc biệt trong thời kỳ ra hoa, đảm bảo cho hoa ở nhiệt độ cần thiết thì hoa sẽ to và đẹp hơn.
Ban ngày cây cần nhiệt độ cao hon dé quang hợp,còn ban đêm nếu nhiệt độ cao sẽ thúc day quá trình hô hấp làm tiêu hao chất dự trữ trong cây (Nguyễn Xuân Linh, 2002).2 Ánh sáng Cây ưa ngày ngắn. Thời kỳ đầu các mầm non mới ra rễ nên cây cần ít ánh sáng, 13 có khi không cần, bởi vì cây còn sử dụng các chất dinh dưỡng dự trữ. Sau khi tiêu hao hết các chất dinh dưỡng cây chuyên sang giai đoạn tự dưỡng, đặc biệt là vào thời kỳ chuẩn bị phân cành thì cây cần nhiều ánh sáng để quang hợp tạo nên chất hữu cơ cần thiết cho hoạt động sống của cây. Thời gian chiếu sáng dài, cây sinh trưởng mạnh, cây cao, hoa to, đẹp.
Bởi vậy nên rất thích hợp với thời tiết Thu Đông và Đông Xuân (Nguyễn Xuân Linh, 2002).3 Âm độ Thích hợp nhất cho cây sinh trưởng phát triển là độ âm đất 60 - 70%, độ âm không khí 55 - 65%. Nếu độ âm trên dưới 80% cây sinh trưởng mạnh, nhưng dễ phát sinh sâu bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hoa (Nguyễn Xuân Linh, 2002).4 Sâu, bệnh hại trên cây hoa cúc và cách phòng trừ.1 Sâu hại Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua), sầu khoang (Spodoptera litura Fabricius), sâu xanh (Helicoverpa armigera Hb. Biện pháp phòng trừ là vệ sinh đồng ruộng dé hạn chế nơi trú ân của trưởng thành, điều tra sâu bệnh trên đồng ruộng định kỳ 1 — 2 lần/tuần, nếu phát hiện phải phun thuốc kịp thời. Dùng thuốc có hoạt chất Dinotefuran (Oshin 20 WP).
Cách dùng: Dùng thuốc Oshin 20 WP, liều lượng: 150 g/1.000 chậu, pha tỉ lệ 3,25 g/8 L, lượng nước phun 36 L dd/1. Phun thuốc khi sâu xuất hiện, định kỳ 7 ngày/lần.2 Bệnh hại Dé phòng bệnh nam ở giai đoạn cây con, phun thuốc Ridomil Gold 68 WP dé sau 10 NST, định kỳ 7 ngày/lần, phun 2 lần, nồng độ 0,003 g/mL, liều lượng 25 g/bình 16 L/1.000 chậu phun 3 bình 14 1.5 Tình hình sản xuất hoa và cây kiếng trên thế giới và Việt Nam 1.1 Sản xuất hoa và cây kiểng trên thế giới Hoa, cây kiểng là ngành đặc thù, vừa có giá trị văn hóa truyền thống, giá trị thâm mỹ, vừa có giá trị kinh tế cao. Cùng với sự phát triển liên tục của công nghệ nhà kính và với những tiến bộ trong công nghệ sinh học, những điều kiện giao thông, vận chuyền hàng hóa tốt và những chiến lược marketing, ngành công nghiệp sản xuất hoa và cây kiếng đã và đang đạt tới những hoạt động và sự cạnh tranh lớn trên thế gidi. Tổng diện tích trồng hoa, cây cảnh trên thé giới khoảng 609.
Trong đó, Châu Á- Thái Bình Dương trồng 452. Trung Đông là vùng có diện tích trồng hoa ít nhất 3.940 ha, chiếm 0,64% tổng diện tích trồng hoa thế giới (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa và cây kiêng, 2014). Ở châu Âu, các nước có diện tích trồng hoa lớn nhất và số lượng cơ sở sản xuất nhiều nhất lần lượt là Y, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Ba Lan. Mặc dù Vương quốc Anh được trông đợi là nước tập trung cho sản xuất hoa và cây cảnh nhưng lại có diện tích tương đối thấp nhưng có các cơ sở sản xuất lớn hơn.
Hà Lan là nước dẫn đầu về giá trị sản xuất với 4. Ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có diện tích trồng hoa lớn nhất. An Độ chiếm gần 51% tổng diện tích trồng hoa của châu Á- Thái Bình Dương (AIPH/Union Fleurs International statistics flower and plants, 2013). Tuy nhiên, Nhat Ban là nước có giá tri san xuất lớn thứ hai sau Trung Quốc so với các nước trong khu vực.
Tại châu Mỹ, Mỹ có diện tích sản xuất lớn và có số lượng cơ sở sản xuất nhiều nhất. Các khu vực sản xuất quan trọng ở Braxin và Mexico cũng có liên quan đến một số lượng lớn các cơ quan sản xuất, trong khi tại Columbia diện tích sản xuất đáng kể có liên quan tương đối ít với các cơ sở sản xuất. Tại châu Phi, Nam Phi hiện giờ là nước có diện tích sản xuất lớn nhất, tuy nhiên có thé sau này diện tích này sẽ không băng các nước sản xuât mới (Kenya và Ethiop1a).2 Sản xuất hoa và cây kiểng ớ Việt Nam Theo Đỗ Đình Thục (2009), hoa cây cảnh được trồng ở nước ta từ rất sớm, với diện tích hơn 4.000 hecta, riêng Đà Lạt có diện tích chiếm khoảng 40 % và chiếm 50% sản lượng hoa cây cảnh của tỉnh Lâm Đồng đã sản xuất và cung ứng cho thị trường trong năm 2007 khoảng 880 triệu cành (khoảng 88 triệu cành dành cho xuất khau).Thanh phó Hồ Chí Minh mỗi năm xuất khâu khoảng 2,5 triệu USD hoa cây cảnh ra thị trường thế giới. Ở Việt Nam đã hình thành 3 vùng hoa lớn sau: Vùng hoa đồng bằng sông Hồng: với khí hậu 4 mùa và nhiều vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa.
Hoa được trồng ở hầu hết các tỉnh của vùng trong đó tập trong nhiều ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hai Phong, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc.