Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nguyên tắc tự do hợp đồng giữ vai trò là một trong những nền tảng cốt lõi của pháp luật dân sự hiện đại. Về mặt lịch sử, tư tưởng tự do ý chí trong giao kết hợp đồng xuất hiện từ sớm và dần được chuẩn hóa thành công cụ pháp lý bảo đảm sự công bằng, tự định đoạt của các chủ thể. Tại Việt Nam, nguyên tắc này từng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 và Trung Kỳ 1936 dưới ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp 1804. Tuy nhiên, trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, quan hệ hợp đồng chủ yếu bị điều chỉnh bằng các mệnh lệnh hành chính, khiến nguyên tắc tự do hợp đồng không có điều kiện phát triển.

Từ công cuộc Đổi mới giữa thập niên 1980 đến nay, cùng với sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam từng bước được cải cách để ghi nhận và bảo vệ quyền tự do thỏa thuận của các bên. Mặc dù vậy, cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn áp dụng hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập: các quan điểm về tự do hợp đồng chưa thực sự đồng nhất; việc hệ thống hóa và áp dụng các giới hạn đối với nguyên tắc này còn thiếu tính nhất quán; đồng thời hệ thống pháp luật thực định còn thiếu cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ bên yếu thế trước hành vi lạm dụng vị thế đàm phán của bên có ưu thế. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Nguyễn Cửu Đức Khánh thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Dân sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài "Nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 4 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguyên tắc tự do hợp đồng, làm rõ bản chất, vai trò, ý nghĩa và lịch sử phát triển của nguyên tắc trên thế giới.
  2. Hệ thống hóa những nội dung cơ bản cùng các giới hạn của nguyên tắc tự do hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.
  3. Phân tích thực tiễn áp dụng nguyên tắc tự do hợp đồng ở Việt Nam qua các bản án, tranh chấp thực tế, từ đó chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế trong công tác xét xử.
  4. Đề xuất các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, bảo đảm quyền tự do hợp đồng song song với việc khắc phục các hạn chế hiện hành.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc tự do hợp đồng và các giới hạn pháp lý của nguyên tắc này trên ba bình diện: lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn xét xử.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào cơ sở lý luận, quá trình phát triển qua các thời kỳ lịch sử, nội dung - giới hạn theo pháp luật hiện hành và thực tiễn tranh chấp.
    • Về không gian: Pháp luật Việt Nam, có kết hợp đối chiếu với pháp luật một số quốc gia (Pháp, Đức, Trung Quốc) và các bộ nguyên tắc quốc tế (UNIDROIT PICC 2016).
    • Về thời gian: Trọng tâm là pháp luật dân sự hiện hành (Bộ luật Dân sự 2015 và các luật chuyên ngành), đồng thời rà soát các văn bản pháp luật qua các thời kỳ lịch sử (trước 1945, 1945–1975, 1975 đến nay).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên nền tảng học thuyết tự do ý chí (autonomie de la volonté / individual autonomy) hình thành từ trào lưu triết học Khai sáng châu Âu thế kỷ XVIII (với các tư tưởng của Montesquieu), kinh tế học cổ điển (laissez-faire, laissez-passer) và các lý thuyết pháp lý về nghĩa vụ dân sự trong Bộ luật Dân sự Pháp 1804, Bộ luật Dân sự Đức 1900. Tác giả tiếp thu các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế của các luật gia, học giả tiêu biểu: Vũ Văn Mẫu, Leon Duguit, Boris Starck, Konrad Zweigert, Hein Kotz, Ngô Huy Cương, Đỗ Văn Đại, Đỗ Giang Nam, Phạm Hoàng Giang, Trần Kiên, Nguyễn Khắc Thu, Hoàng Trung Hiếu, Cao Thị Thùy Linh, Nguyễn Thị Kim Thanh...

Hệ thống văn bản pháp luật được sử dụng làm căn cứ pháp lý nền tảng bao gồm: Bộ luật Dân sự 2015 (đặc biệt là Điều 3, Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 218, Điều 405, Điều 406, Điều 683); các bộ luật tiền nhiệm (Bộ luật Dân sự 1995, 2005; Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991; Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989); các văn bản chuyên ngành như Luật Thương mại 2005, Luật Nhà ở 2014, Luật Kinh doanh bất động sản 2014, Luật Đất đai 2013, Luật Đầu tư 2020, Luật Trọng tài thương mại 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 và 2023; cùng các nghị định hướng dẫn (Nghị định 94/2017/NĐ-CP, Nghị định 31/2021/NĐ-CP, Nghị định 67/2023/NĐ-CP) và Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích lịch sử pháp luật: Tái hiện sự thay đổi quy định về tự do hợp đồng qua các giai đoạn phát triển của nhà nước Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp và diễn dịch: Phân tích cấu trúc quy phạm, khái quát hóa các nội dung và nhóm giới hạn pháp lý của tự do hợp đồng.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu pháp luật hợp đồng Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế (UNIDROIT) và pháp luật các nước (Pháp, Trung Quốc).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Thu thập và phân tích các bản án phúc thẩm thực tế của Tòa án nhân dân cấp tỉnh/thành phố để đánh giá xung đột pháp lý trong thực tiễn áp dụng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc tự do hợp đồng

Chương 1 làm rõ nguồn gốc lý luận và tiến trình phát triển của nguyên tắc tự do hợp đồng trên thế giới. Tác giả chỉ ra rằng học thuyết tự do ý chí xem ý chí cá nhân là tối thượng và tự chủ; hợp đồng là sự thống nhất ý chí tự nguyện, từ đó làm phát sinh nghĩa vụ có giá trị ràng buộc như luật định đối với các bên. Học thuyết này được phân tích qua 3 phương diện: triết học (tự do cá nhân, không ai bị ép buộc làm điều ngoài ý muốn), đạo đức (hành vi xuất phát từ lợi ích tự thân) và kinh tế (lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy thị trường).

Trên cơ sở tổng hợp quan điểm của các học giả, khóa luận xác định 4 đặc điểm pháp lý cơ bản của nguyên tắc tự do hợp đồng:

  1. Là cơ sở để các bên thực hiện quyền tự định đoạt trong quan hệ dân sự.
  2. Là nguồn trực tiếp tạo ra nghĩa vụ dân sự và cơ chế ràng buộc thực hiện.
  3. Có nội dung biến đổi linh hoạt qua các giai đoạn xác lập, thực hiện và chấm dứt hợp đồng.
  4. Có thể và cần thiết phải bị giới hạn để bảo vệ trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục.

Xem xét lịch sử thế giới, tác giả phân chia sự phát triển của nguyên tắc thành 2 giai đoạn lớn:

  • Giai đoạn tự do hợp đồng cổ điển (tuyệt đối): Thịnh hành ở thế kỷ XVIII–XIX, dựa trên giả định rằng các bên có năng lực đàm phán ngang nhau và tự do thỏa thuận ắt sẽ tự động dẫn tới sự công bằng. Toà án thời kỳ này chỉ kiểm tra tính tự nguyện về mặt thủ tục mà không can thiệp nội dung thỏa thuận. Tuy nhiên, sự tuyệt đối hóa này bộc lộ khiếm khuyết lớn khi trở thành công cụ để bên có ưu thế kinh tế bóc lột bên yếu thế (như nhận định của Leon Duguit, V.I. Lenin).
  • Giai đoạn tự do hợp đồng hiện đại (hạn chế): Nhà nước can thiệp thông qua pháp luật nhằm thực hiện 3 chức năng: cân bằng lợi ích cá nhân với lợi ích công cộng, thiết lập cơ chế bảo vệ bên yếu thế, và định hướng phát triển trật tự kinh tế. Giai đoạn này ghi nhận sự xuất hiện của các nguyên tắc bổ trợ như thiện chí, công bằng, trung thực và kiểm soát các điều khoản mẫu lạm dụng.

Chương 2: Sự phát triển của nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam

Chương 2 phân tích tiến trình lập pháp tại Việt Nam và cấu trúc nội dung - giới hạn của nguyên tắc theo pháp luật thực định.

  • Tiến trình lịch sử: Thời kỳ phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ) tuy không quy định trực tiếp điều khoản minh thị nhưng đã thể hiện tinh thần "thuận mua vừa bán" và xử lý các hành vi ức hiếp, áp dụng ý niệm "bất ứng vi". Thời Pháp thuộc, các bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931) và Trung Kỳ (1936) thừa nhận trực tiếp nguyên tắc này từ Bộ luật Dân sự Pháp 1804. Giai đoạn 1945–1975, Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Điều 13) lần đầu đặt ra giới hạn bảo vệ bên bị bóc lột do chênh lệch kinh tế. Sau năm 1975 đến trước 1986, cơ chế kế hoạch hóa tập trung làm suy giảm vai trò của hợp đồng dân sự. Từ thời kỳ Đổi mới, các văn bản như Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991, Bộ luật Dân sự 1995, 2005 và đỉnh cao là Bộ luật Dân sự 2015 đã từng bước hoàn thiện, khẳng định tự do hợp đồng là nguyên tắc nền tảng tại khoản 2 Điều 3.

  • Ba nội dung cơ bản của nguyên tắc tự do hợp đồng:

    1. Tự do tham gia quan hệ hợp đồng: Bao gồm quyền tự do quyết định giao kết hoặc không giao kết, tự do lựa chọn loại hợp đồng và tự do lựa chọn đối tác.
    2. Tự do thỏa thuận các điều khoản: Tự do xác lập đối tượng, quyền, nghĩa vụ, giá cả, phương thức thanh toán, biện pháp bảo đảm, chế tài phạt vi phạm, cơ chế giải quyết tranh chấp (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án) và quyền lựa chọn luật áp dụng (Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 14 Luật Trọng tài thương mại 2010).
    3. Tự do lựa chọn hình thức hợp đồng: Lựa chọn hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể (Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015).
  • Ba nhóm giới hạn pháp lý của nguyên tắc:

    1. Giới hạn về tham gia quan hệ hợp đồng: Yêu cầu về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự (Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015); quy định về hợp đồng bắt buộc (như bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới theo Nghị định 67/2023/NĐ-CP); các quy định hạn chế lựa chọn đối tác do độc quyền nhà nước đối với 20 nhóm hàng hóa, dịch vụ (Nghị định 94/2017/NĐ-CP) và quyền ưu tiên mua (Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 127 Luật Nhà ở 2014).
    2. Giới hạn về thỏa thuận điều khoản: Tuân thủ điều cấm của luật và đạo đức xã hội (Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015); hạn chế về hàng hóa cấm kinh doanh/kinh doanh có điều kiện (Luật Đầu tư 2020, Nghị định 31/2021/NĐ-CP); cấm thanh toán bằng ngoại tệ (Pháp lệnh Ngoại hối); trần mức phạt vi phạm (tối đa 8% theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, tối đa 12% theo Luật Xây dựng 2014 đối với công trình dùng vốn nhà nước); kiểm soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung (Điều 405, Điều 406 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 với 15 loại điều khoản vô hiệu, Quyết định 02/2012/QĐ-TTg với 11 nhóm dịch vụ thiết yếu phải đăng ký mẫu).
    3. Giới hạn về hình thức hợp đồng: Bắt buộc lập thành văn bản đối với các giao dịch tài sản quan trọng; bắt buộc công chứng, chứng thực (giao dịch bất động sản theo Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014, Luật Kinh doanh bất động sản 2014); bắt buộc đăng ký giao dịch (giao dịch bảo đảm, chuyển nhượng sở hữu công nghiệp, đăng ký hợp đồng mẫu).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tự do hợp đồng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương 3 tập trung phân tích các tranh chấp tư pháp cụ thể để đánh giá ranh giới áp dụng giữa quyền tự do hợp đồng và các giới hạn pháp luật:

  • Về năng lực chủ thể và điều cấm của luật: Phân tích Bản án phúc thẩm số 47/2020/KDTM-PT của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ B và bà Trần Thị P về hợp đồng môi giới tiếp thị cho thuê cơ sở. Mặc dù hai bên xác lập hợp đồng trên cơ sở tự nguyện và mục đích môi giới đã hoàn thành, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn tuyên bố hợp đồng và phụ lục vô hiệu do bà P không có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản (vi phạm điều kiện tại Điều 8, Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 và Điều 117, 123 Bộ luật Dân sự 2015).
  • Về ý chí tự nguyện và hành vi lừa dối: Phân tích Bản án phúc thẩm số 24/2021/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai giữa bà Đỗ Thị N và con dâu Nguyễn Thị T về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Tòa án xác định việc lập hợp đồng tặng cho nhưng người tặng cho bị lừa dối (tưởng là thủ tục bổ sung tên cháu nội vào giấy chứng nhận) đã làm sai lệch ý chí tự do, dẫn đến hợp đồng không có giá trị pháp lý.
  • Về kiến nghị hoàn thiện: Đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện quy định về ranh giới điều cấm (thống nhất khái niệm "điều cấm của luật" phải là văn bản cấp luật do Quốc hội ban hành), hài hòa quy định về trần phạt vi phạm giữa luật chung và luật chuyên ngành, và nâng cao hiệu quả kiểm soát các điều khoản mẫu không công bằng.

Kết quả và đóng góp của đề tài

Khóa luận đã tổng hợp và phân loại một cách có hệ thống sự phát triển của quy định pháp luật Việt Nam về nguyên tắc tự do hợp đồng qua các mốc lập pháp quan trọng:

Thời kỳ lịch sử Văn bản tiêu biểu Đặc điểm ghi nhận nguyên tắc tự do hợp đồng Cơ chế giới hạn
Trước 1945 Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ; Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936) Thời phong kiến ghi nhận ngầm qua tư tưởng "thuận mua vừa bán"; thời Pháp thuộc du nhập trực tiếp nguyên tắc tự do kết ước từ Bộ luật Dân sự Pháp 1804. Ý niệm "bất ứng vi", trật tự xã hội phong kiến; trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và luật pháp.
1945 – 1975 Sắc lệnh 97/SL (1950); Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa (1972) Miền Bắc duy trì tạm thời luật cũ gắn với bảo vệ bên yếu thế; miền Nam ghi nhận nguyên tắc tự do kết ước (Điều 654). Điều 13 Sắc lệnh 97/SL bảo vệ bên bị bóc lột do chênh lệch kinh tế; điều cấm của luật, trật tự công cộng.
1975 – 1986 Các văn bản quản lý kinh tế tập trung Quan hệ hợp đồng dân sự bị thu hẹp; điều chỉnh chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính kế hoạch hóa. Kế hoạch nhà nước và chỉ tiêu pháp lệnh.
1986 – 2014 Pháp lệnh HĐKT 1989, Pháp lệnh HĐDS 1991, BLDS 1995, BLDS 2005 Ghi nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận; tuy nhiên còn phân tán giữa 3 loại hợp đồng (dân sự, kinh tế, thương mại). Trùng lặp quy định nguyên tắc chung và riêng; nhiều căn cứ vô hiệu hóa hợp đồng.
2015 đến nay Bộ luật Dân sự 2015 và các luật chuyên ngành Quy định tập trung tại khoản 2 Điều 3, khẳng định giá trị bắt buộc của mọi cam kết không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Giới hạn về năng lực, độc quyền nhà nước, trần phạt vi phạm, kiểm soát điều khoản mẫu, kiểm soát hình thức bắt buộc.

Các đóng góp và kiến nghị giải pháp cụ thể của tác giả bao gồm:

  • Đóng góp khoa học: Xây dựng khung phân tích toàn diện chia giới hạn tự do hợp đồng thành 3 nhóm rõ rệt (tham gia, nội dung, hình thức), chỉ rõ sự dịch chuyển từ tự do tuyệt đối sang tự do có sự điều tiết của nhà nước nhằm bảo đảm công bằng nội dung.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định:
    1. Về tham gia quan hệ hợp đồng: Làm rõ cơ chế xác định năng lực chủ thể trong các hợp đồng dịch vụ có điều kiện; bảo đảm sự minh bạch trong việc áp dụng danh mục độc quyền nhà nước nhằm tránh hạn chế quyền tiếp cận thị trường của các chủ thể kinh doanh.
    2. Về thỏa thuận điều khoản: Thống nhất cách giải thích "điều cấm của luật" tại Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, tránh tình trạng cơ quan xét xử dẫn chiếu các văn bản dưới luật (như pháp lệnh, thông tư) để tuyên bố vô hiệu thỏa thuận dân sự; rà soát và điều chỉnh quy định về mức trần phạt vi phạm nghĩa vụ giữa Luật Thương mại 2005 (8%) và Bộ luật Dân sự 2015 (tự do thỏa thuận) để bảo đảm tính đồng bộ.
    3. Về hình thức hợp đồng: Mở rộng và áp dụng linh hoạt cơ chế công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện hình thức nhưng các bên đã thực hiện được ít nhất hai phần ba nghĩa vụ (theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015), nhằm bảo vệ ý chí đích thực của các bên giao kết.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận chủ yếu tập trung vào một số bản án phúc thẩm điển hình tại Tòa án cấp tỉnh, chưa mở rộng thành nghiên cứu định lượng thống kê toàn diện trên toàn bộ hệ thống án lệ và bản án giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, tại thời điểm tác giả hoàn thành khóa luận (năm 2024), các đạo luật mới như Luật Đất đai 2024, Luật Nhà ở 2023, Luật Kinh doanh bất động sản 2023 đã được ban hành nhưng chưa chính thức có hiệu lực thi hành, do đó tác giả chủ yếu vẫn phải đối chiếu trên cơ sở các văn bản luật hiện hành năm 2013 và 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tác động của các luật chuyên ngành mới (Luật Đất đai 2024, Luật Nhà ở 2023, Luật Kinh doanh bất động sản 2023) đến quyền tự do hợp đồng; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát tư pháp đối với các hợp đồng giao kết trên môi trường số, hợp đồng thông minh (smart contract) và việc bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế và Luật Thương mại quốc tế khi nghiên cứu về lý luận hợp đồng, học thuyết tự do ý chí và kỹ thuật lập pháp trong luật tư.
  • Luật sư, chuyên viên pháp chế doanh nghiệp và cán bộ tư pháp (Thẩm phán, Kiểm sát viên) trong việc nhận diện các căn cứ vô hiệu của hợp đồng, xác định ranh giới giữa thỏa thuận hợp pháp và vi phạm điều cấm của luật, cũng như xử lý các điều khoản mẫu và điều kiện giao dịch chung trong thực tế.
  • Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất: Bức tranh tiến trình lịch sử quy định tự do hợp đồng qua các thời kỳ lập pháp Việt Nam; mô hình phân loại 3 nhóm giới hạn tự do hợp đồng; và phân tích lập luận tư pháp trong các vụ án thực tế tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Học thuyết tự do ý chí tác động như thế nào đến việc hình thành nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự?
Học thuyết tự do ý chí quan niệm rằng con người chỉ bị ràng buộc bởi chính ý chí tự chủ của mình. Khi các bên đạt được sự thống nhất ý chí tự nguyện thông qua hợp đồng, thỏa thuận đó tự thân trở thành nguồn trực tiếp phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, có giá trị bắt buộc thực thi giữa các bên tương đương với các quy định pháp luật mà không phụ thuộc vào mệnh lệnh bên ngoài.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa tự do hợp đồng cổ điển và tự do hợp đồng hiện đại là gì?
Tự do hợp đồng cổ điển xem tự do là tuyệt đối, giả định các bên có vị thế đàm phán ngang nhau và Tòa án không được can thiệp vào nội dung thỏa thuận. Ngược lại, tự do hợp đồng hiện đại chấp nhận sự can thiệp của Nhà nước thông qua các giới hạn pháp lý nhằm bảo vệ trật tự công cộng, lập lại sự cân bằng kinh tế và bảo vệ bên yếu thế (như người tiêu dùng, người lao động) trước sự lạm dụng quyền lực hợp đồng.

3. Theo Bộ luật Dân sự 2015, nguyên tắc tự do hợp đồng được quy định tại điều khoản nào và có điểm gì mới so với Bộ luật Dân sự 2005?
Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận nguyên tắc này tại khoản 2 Điều 3 (áp dụng chung cho toàn bộ giao dịch dân sự) thay vì quy định lặp lại ở cả nguyên tắc chung (Điều 4) và chế định hợp đồng (Điều 389) như Bộ luật Dân sự 2005. Đồng thời, Bộ luật Dân sự 2015 thu hẹp căn cứ vô hiệu, chỉ những cam kết vi phạm "điều cấm của luật" (văn bản luật) mới bị vô hiệu, thay vì "điều cấm của pháp luật" (bao gồm cả văn bản dưới luật) như trước đây.

4. Tại sao Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng môi giới bất động sản trong Bản án số 47/2020/KDTM-PT tại TAND TP Đà Nẵng dù hai bên hoàn toàn tự nguyện?
Vì bên môi giới (bà Trần Thị P) không có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản theo quy định bắt buộc tại khoản 1 Điều 8 và khoản 2 Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản 2014. Tòa án xác định điều kiện về năng lực hành nghề là quy định cấm cá nhân không đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ môi giới, do đó thỏa thuận tự nguyện vi phạm điều cấm của luật và bị vô hiệu theo Điều 117, 122, 123 Bộ luật Dân sự 2015.

5. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định những nhóm hàng hóa, dịch vụ nào chịu sự giới hạn về quyền tự do lựa chọn đối tác?
Quyền tự do lựa chọn đối tác bị giới hạn trong 2 trường hợp chính: thứ nhất là 20 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại theo Nghị định số 94/2017/NĐ-CP (như xuất bản, truyền tải điện, công trình quốc phòng...); thứ hai là các trường hợp pháp luật quy định quyền ưu tiên mua của chủ thể xác định, ví dụ như quyền ưu tiên mua của chủ sở hữu chung (Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015) hoặc quyền ưu tiên mua nhà ở của bên đang thuê (Điều 127 Luật Nhà ở 2014).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Cửu Đức Khánh đã hệ thống hóa toàn diện nền tảng lý luận, quá trình phát triển lịch sử và thực trạng áp dụng nguyên tắc tự do hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định xu hướng chuyển dịch tất yếu từ tự do hợp đồng tuyệt đối sang tự do có kiểm soát nhằm bảo đảm sự công bằng thực chất và bảo vệ bên yếu thế trong nền kinh tế thị trường. Các phân tích án lệ thực tế và hệ thống kiến nghị trong công trình cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị cho việc tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về hợp đồng tại Việt Nam.