Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn Basel II. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II tại ngân hàng Vietcombank. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THEO TIÊU CHUẨN BASEL II 1.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Quan điểm rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
Theo Ủy ban Basel và giám sát ngân hàng (1999) thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Theo như cách định nghĩa này thì rủi ro tín dụng của người vay là không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 21/01/2013 “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, tác giả rút ra như sau: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khoản lỗ tiềm tàng xảy ra khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đầy đủ về số lượng và thời hạn như thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng.2 Nguyên nhân gây ra RRTD của Ngân hàng thương mại Nguyên nhân gây ra RRTD tương đối đa dạng và phức tạp, bao gồm 3 nhóm nguyên nhân: nguyên nhân từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ khách hàng và nguyên nhân từ ngân hàng.1 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn nằm trong một môi trường nhất định. Khi những biến số trong môi trường thay đổi có thể là nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng.
6 Môi trường bên ngoài bao gồm: Môi trường kinh tế, môi trường chính trị, xã hội, pháp luật, môi trường tự nhiên…khi môi trường bên ngoài có sự biến động, ví dụ: sự biến động của nền kinh tế vĩ mô (biến đổi tỷ giá, lạm phát, lãi suất…), sự thay đổi môi trường pháp luật (thay đổi cơ chế, chính sách, quy định pháp luật của nhà nước), sự thay đổi quan điểm của hệ thống chính trị hoặc sự thay đổi của môi trường tự nhiên… đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, đến hoạt động tích lũy và tiêu dùng của dân cư. Trong môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội, tự nhiên ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi của các doanh nghiệp, cá nhân mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó tạo điều kiện các doanh nghiệp tăng lợi nhận, tích lũy, đầu tư và khả năng thanh toán, các cá nhân có cơ hội tăng thu nhập và mở rộng tiêu dùng. Ngược lại, môi trường bên ngoài có nhiều biến động, bất ổn sẽ gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân, từ đó giảm khả năng tích lũy, gây khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp, giảm thu nhập cá nhân. Trong trường hợp các doanh nghiệp, cá nhân có quan hệ tín dụng với NHTM, khả năng trả nợ sẽ giảm sút, dễ phát sinh RRTD.
Nguyên nhân gây RRTD từ môi trường bên ngoài mang tính chất bất khả kháng, NHTM thường khó hoặc không thể kiểm soát được mà chỉ có thể dự báo và thực hiện dự phòng sự biến động.2 Nguyên nhân từ khách hàng Khách hàng là đối tượng có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo cam kết. Trong trường hợp năng lực quản lý điều hành nói chung, khả năng quản lý và sử dụng vốn nói riêng của khách hàng yếu kém sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, không tạo ra nguồn thu nhập để trả nợ ngân hàng, từ đó gây ra RRTD, hoặc trong một số khách hàng có ý định lừa đảo: sử dụng các thông tin không trung thực khi lập hồ sơ vay vốn, sử dụng vốn sai mục đích, cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng, không có thiện chí trả nợ. Nếu ngân hàng không thẩm định chặt chẽ trước, trong và sau khi cho vay, không phát hiện kịp thời mà vẫn cấp tín dụng cho khách hàng thì hậu quả tất yếu là phát sinh RRTD, không thể thu hồi nợ gốc và lãi.3 Nguyên nhân từ ngân hàng RRTD còn có nguyên nhân từ phía ngân hàng. Bao gồm: Tập trung tín dụng: Trong hoạt động của ngân hàng do lý do nhất định nào đó, có thể ngân hàng quá tập trung tín dụng vào một khách hàng (hoặc một nhóm khách hàng), tập trung vào một ngành nghề, một lĩnh vực hoặc một khu vực địa lý…Khi các đối tượng, các lĩnh vực, ngành nghề có mức độ tập trung tín dụng cao có biến động có thể là nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng.
Quy trình cấp tín dụng còn lỏng lẻo hoặc hạ thấp điều kiện vay vốn: Quy trình cấp tín dụng chưa phù hợp, các bước trong quy trình chưa thực sự chặt chẽ sẽ tạo ra các kẽ hở, lỗ hổng để khách hàng có thể lách luật, thiếu trung thực là nguyên nhân gây ra RRTD. Bên cạnh đó, trong những trường hợp nhất định ngân hàng hạ thấp các điều kiện vay vốn cũng có thể là nguyên nhân phát sinh và làm trầm trọng thêm RRTD. Khi quy trình cấp tín dụng chưa chặt chẽ, các điều kiện vay vốn bị hạ thấp sẽ dẫn đến việc thiếu thận trọng trong quá trình xét duyệt và cấp tín dụng, thiếu chặt chẽ, thiếu thận trọng, không tuân thủ quy trình kiểm soát hoặc chỉ mang tính hình thức. Trình độ cán bộ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ: Trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ làm công tác tín dụng có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra RRTD.
Do tính phức tạp trong quá trình đánh giá các dự án/ phương án vay vốn đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn, am hiểu tường tận về khách hàng, về các hoạt động liên quan đến việc sử dụng vốn vay. Trong trường hợp cán bộ tín dụng không đủ trình độ chuyên môn để đánh giá đúng khách hàng và tính khả thi của phương án vay vốn, dẫn đến quyết định cấp tín dụng cho khách hàng không đủ tin cậy về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ hoặc khả năng tài chính của khách hàng không đủ để hoàn thành nghĩa vụ nợ với ngân hàng, RRTD tất yếu sẽ phát sinh. Bên cạnh đó, cán bộ làm công tác tín dụng nếu không ý thức được trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, không tuân thủ quy trình, nghiệp vụ nhằm mục đích gian lận, trục lợi sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc cấp tín dụng cho khách hàng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, lơ là kiểm tra, giám sát quá trình sử 8 dụng vốn của khách hàng, hậu quả tất yếu là ngân hàng không thu hồi đủ nợ gốc và lãi, RRTD tăng cao. Rủi ro tín dụng nhạy cảm với thị trường và thanh khoản Trong trường hợp RRTD nhạy cảm với thị trường và thanh khoản có thể gây ra RRTD ở mức độ cao hơn.
Thị trường biến động làm giảm giá trị các tài sản của khách hàng vay, ảnh hưởng đến uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng. Thị trường biến động cũng gây nên sự giảm giá trị tài sản thế chấp, các hợp đồng phái sinh cùng với các loại tài sản đảm bảo khác. Từ đó RRTD có nguy cơ tăng cao. Tương tự, yếu tố thanh khoản cũng tác động đến giá trị, khả năng chuyển đổi các tài sản được nắm giữ bởi ngân hàng cũng như khách hàng vay vốn.
Điều đó sẽ làm phát sinh và trầm trọng hơn RRTD cả từ phía ngân hàng và khách hàng được cấp tín dụng. RRTD cũng có thể có nguyên nhân từ các rủi ro khác có liên quan trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi phát sinh rủi ro thị trường hoặc rủi ro hoạt động cũng có thể là nguồn gốc gây ra RRTD.3 Tác động của rủi ro tín dụng đến hoạt động của NHTM Rủi ro tín dụng làm tăng chi phí giảm lợi nhuận ngân hàng, giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Khi ngân hàng phát sinh các khoản nợ xấu thì trước đó ngân hàng đã bỏ ra rất nhiều chi phí xử lý nợ cần chú ý như chi phí quản lý nợ, chi phí nhân viên, các chi phí gặp gỡ để xử lý nợ và ngoài ra ngân hàng còn mất chi phí cơ hội như cho vay món mới, giảm uy tín, chậm vòng quay tín dụng và từ đó làm giảm hiệu quả chi phí của ngân hàng.
Việc không thu hồi hoặc thu hồi không đủ nợ gốc và lãi ảnh hưởng trực tiếp làm giảm thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng. Nếu ngân hàng gặp nhiều món vay có tổn thất lớn thì sẽ làm cho ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản. Giảm năng lực thanh toán của ngân hàng: Với tính chất kinh doanh của ngân hàng thì vốn kinh doanh chủ yếu đến từ việc huy động. Các nguồn huy động này đều có thời hạn và ngân hàng thì phải trả lãi cho người gửi tiền.
Vì vậy, ngân hàng phải tìm mọi cách để mở rộng cho vay, đầu tư tạo thu nhập bù đắp chi phí lãi 9 huy động và có lợi nhuận. Đồng thời các khoản cho vay, đầu tư phải được thu hồi đúng hạn để có nguồn hoàn trả cho người gửi tiền. RRTD phát sinh làm ngân hàng không thu đủ số gốc và lãi đúng hạn, tác động xấu đến kế hoạch nguồn vốn. Trong trường hợp RRTD tăng nhanh, không có khả năng kiểm soát ngân hàng sẽ thiếu nguồn chi trả cho người gửi tiền, giảm khả năng thanh toán.
Hạn chế tăng trưởng tín dụng: Về nguyên tắc, một khách hàng không đủ khả năng trả nợ món vay cũ thì sẽ hạn chế những khoản vay mới.Trong nhiều trường hợp, ngân hàng phải xử lý RRTD thông qua xử lý bằng việc phát mại tài sản bảo đảm (TSBĐ), khởi kiện ra tòa án…những biện pháp xử lý này trong chừng mực nhất định có thể làm tổn hại đến uy tín của ngân hàng cũng như mối quan hệ tốt đẹp giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn.