Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Một số biện pháp hình thành kỹ năng ăn uống tự lập cho trẻ 2 – 3 tuổi Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm về một số biện pháp hình thành kỹ năng ăn uống tự lập cho trẻ 2 – 3 tuổi Kết luận, kiến nghị sƣ phạm 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về dinh dƣỡng, sức khỏe và tính tự lập là một trong những đề tài thu hút sự quan tâm của chuyên gia dinh dƣỡng, nhà tâm lý và giáo dục trên thế giới (nghiên cứu về giáo dục tính TL, kỹ năng ăn uống, các chứng biếng ăn tâm lý…) nhƣ: ông Hyporcat, s.
Jane, cụ thể nhƣ sau: Ông Hyporcat [21], đã chỉ rõ vai trò của dinh dƣỡng trong vấn đề bảo vệ sức khỏe tùy từng lứa tuổi, tùy vào thời tiết mà có chế độ dinh dƣỡng phù hợp, nhất là đối với trẻ nhỏ. Quan điểm của ông cho rằng: Cơ thể của trẻ cần nhiều năng lƣợng hơn ngƣời lớn do đó cần dinh dƣỡng đầy đủ để phát triển thể chất. Chúng ta thƣờng thấy trẻ nhỏ rất hiếu động, trẻ càng hiếu động càng tiêu hao nhiều năng lƣợng dẫn đến những nhu cầu về dinh dƣỡng. Đáp ứng dinh dƣỡng cho trẻ là đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển về thể chất.
Tuy nhiên, quan trọng hơn hết vẫn là đáp ứng dinh dƣỡng một cách hợp lí nhƣ Hyporcat nói chế độ ăn chỉ tốt khi có một lối sống hợp lý. Hay nhà phân tâm học ngƣời Áo - S. Freud [15] nhận thấy rằng: Ăn uống có ảnh hƣởng rất lớn đến cân nặng của trẻ. Ông đã khẳng định: Trong trƣờng hợp thiếu ăn, các xƣơng cốt vẫn dài ra, trái lại, cân nặng đứng im hay sụt cân.
Điều đó cho thấy đƣợc tầm quan trọng của ăn uống đối với trẻ em là rất lớn. Trẻ cần có một chế độ sinh hoạt hợp lí bên cạnh chế độ dinh dƣỡng thích hợp để có thể phát triển cân đối. Tiêu biểu nhƣ công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Mukhina [20] T. Các tác giả đều đã khẳng định tính TL không tự nhiên mà có, những tƣ chất tự nhiên của con ngƣời chỉ là những điều kiện cần thiết cho việc hình thành tính TL dƣới sự hƣớng dẫn và giúp đỡ của 6 ngƣời lớn.Đơmitriev [20] tính TL chỉ đƣợc thể hiện một cách thực sự trên cơ sở đã có những hiểu biết, kĩ năng nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống mới.
Tính TL đƣợc thể hiện thông qua hành vi của con ngƣời trong các mối quan hệ của con ngƣời với thế giới xung quanh. Theo tác giả Rhonda M. Jane, [8] để trẻ có đƣợc những kỹ xảo, thói quen sử dụng đồ dùng một cách chính xác, thuần thục và khéo léo, không chỉ đòi hỏi trẻ phải thƣờng xuyên luyện tập, mà còn phải đáp ứng đƣợc những nhu cầu của trẻ, đó là cung cấp cho trẻ những mẫu hành vi văn hóa, những hành vi đúng, đẹp, văn minh của chính cha mẹ và những ngƣời xung quanh trẻ. Cụ thể: Trẻ đƣợc làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống).
Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu… tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỷ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. Chứ cha mẹ đừng vì nuông chiều con mà làm cho trẻ từ A - Z. Nhƣ vậy: Các nhà tâm lý, giáo dục học trên thế giới đã nghiên cứu rất nhiều những vấn đề về tính tự lập cho trẻ mầm non, khẳng định rõ vị trí quan trọng của việc ăn uống tự lập cho trẻ. Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ mang tính khái quát, các nghiên cứu việc hình thành kỹ năng ăn uống tự lập cho trẻ mầm non còn chƣa sâu, chƣa sát vào các độ tuổi.
Lịch sử nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề dinh dƣỡng, sức khỏe và tính tự lập, chứng biếng ăn ở trẻ nhƣ: 2 vị danh y nổi tiếng: Tuệ Tĩnh và Hải Thƣợng Lãn Ông, Lê Thị Mai Hoa, Nguyễn Thị Kim Ngân, Mai Ngọc Liên, cụ thể nhƣ sau: Tiêu biểu nhƣ công trình nghiên cứu của 2 vị danh y nổi tiếng: Tuệ Tĩnh và Hải Thƣợng Lãn Ông [19]. Cả 2 vị danh y này đề có thể coi là những nhà 7 dinh dƣỡng học đầu tiên ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu của 2 ông đều nhấn mạnh tầm quan trọng của ăn uống trong phòng và điều trị bệnh, nâng cao sức khoẻ của con ngƣời. Lê Thị Mai Hoa [6] cho rằng: Giáo dục dinh dƣỡng đối với trẻ mầm non là rất cần thiết, cung cấp cho trẻ những kiến thức, kĩ năng, thái độ về dinh dƣỡng. Giáo dục dinh dƣỡng cho trẻ có thể sử dụng các loại trò chơi khác nhau trong đó trò chơi học tập có vai trò quan trọng trong việc giáo dục dinh dƣỡng cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân[14] Luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 24 – 36 tháng trong hoạt động với đồ vật”. Tác giả đã đề xuất và thực nghiệm có kết quả một số biện pháp giáo dục nhằm pháp triển giáo dục tính TL cho trẻ. Tác giả cũng cho rằng nếu có biện pháp hƣớng dẫn trẻ trong hoạt động với đồ vật phù hợp thì tính tự lực của trẻ sẽ đƣợc hình thành và trên thuận lợi. Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng: Tính TL có nhiều nét tƣơng đồng với tính tự lực có biểu hiện thiên xu hƣớng thiên về khía cạnh hành vi.
Tác giả Nguyễn Hồng Thuận cũng đã nghiên cứu một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính TL cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi). Nguyễn Hồng Thuận đã đề xuất và thực nghiệm có kết quả các nhóm biện pháp tổ chức hoạt động, hình thành ở trẻ kỹ năng hoạt động một cách độc lập, nhóm biện pháp hình thành ý TL và nhóm biện pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh ứng xử ở trẻ. Nguyễn Thị Kim Ngân và Nguyễn Hồng Thuận cho rằng: Tính TL có nhiều nét tƣơng đồng với tính tự lực có biểu hiện thiên về khía cạnh hành vi. Một số nhà nghiên cứu gắn trong quá trình giáo dục cơ bản có chức năng hƣớng dẫn trẻ rèn luyện mình trong ăn uống, nhằm giúp trẻ nắm đƣợc một số kỹ năng, kỹ xảo trong ăn uống đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị cho trẻ sau này dễ tham gia vào đời sống lao động.
Đồng thời giúp trẻ hiểu đƣợc vai trò của việc hình thành kỹ năng ăn uống TL. Tác giả Huỳnh Văn Sơn [11] Biện pháp khắc phục khi trẻ biếng ăn 8 trong giai đoạn từ 1 – 6 tuổi và [13] Biểu hiện biếng ăn tâm lý của trẻ từ 1 – 6 tuổi qua đánh giá của phụ huynh, có thể đây là những nghiên cứu gần và cụ thể nhất về kỹ năng cũng những biểu hiện ăn uống của trẻ. Nhìn chung, các nghiên cứu này đã hệ thống hóa đƣợc nhiều cơ sở lí luận liên qua đến giáo dục dinh dƣỡng và sức khỏe cho trẻ, nghiên cứu chuyên sâu về các biểu hiện biếng ăn tâm lí, tìm hiểu và phân tích các nguyên nhân tác động đồng thời đã đề xuất và khảo sát khả thi và thực nghiệm để chứng thực mức độ thành công của biện pháp. Nhƣ vậy, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về dinh dƣỡng và tính tự lập cho trẻ 2 – 3 tuổi.
Các tác giả đã khái quát hóa những vấn đề lý thuyết, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục phẩm chất này trong các hoạt động khác nhau. Tuy nhiên chƣa có những nghiên cứu đi sâu, cụ thể về một số biện pháp hình thành kỹ năng ăn uống tự lập cho trẻ 2 – 3 tuổi. Vì vậy cần phải nghiên cứu đƣa ra các biện pháp hữu hiệu để giáo dục phẩm chất này của trẻ. Hình thành kỹnăng ăn uống tựlập của trẻ2 – 3 tuổi 1.
Khái niệm hình thành kỹ năng ăn uống tự lập cho trẻ 2 – 3 tuổi - Khái niệm hình thành: Hình thành là nảy sinh và bắt đầu tồn tại nhƣ một thực thể. - Khái niệm kỹ năng: Khi nghiên cứu khái niệm kỹ năng là gì, có rất nhiều qua điểm đƣa ra. Không có một khái niệm nào là cụ thể và đồng nhất về kỹ năng. Tùy thuộc vào mỗi ngƣời sẽ có những nhận định và định nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn nhƣ: Theo nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình, Lê Thị Thu Hà, Trịnh Thúy Giang: “Kỹ năng chính là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động”. Đối với mỗi kỹ năng sẽ bao gồm hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện một cách trọn vẹn, hệ thống thao tác này giúp đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu đề ra cho hoạt động. Đặc biệt sự thực hiện các kỹ năng sẽ luôn đƣợc kiểm tra thông qua ý thức. Điều này có nghĩa mỗi khi thực hiện bất kỳ môt kỹ năng nào đều cần phải hƣớng tới mục đích nhất định.Lêvitôv[3]: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”.
Theo ông những ngƣời có kỹ năng là những ngƣời phải nắm và vận dụng một cách đúng đắn về những cách thức hành động giúp cho việc thực hiện hành động đạt đƣợc hiệu quả. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh, con ngƣời có kỹ năng không chỉ đơn thuần nắm lý thuyết và hành động mà còn phải đƣợc ứng dụng vào thực tế. Mặc dù có nhiều khái niệm liên quan tới kỹ năng, tuy nhiên kỹ năng đƣợc hiểu chung là khả năng vận dụng các kiến thức, sự hiểu biết của con ngƣời vào việc thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra đƣợc kết quả nhƣ mong muốn. - Khái niệm kỹ năng tự lập: Trong cuốn đại từ điển Tiếng Việt[17] do tác giả Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên có định nghĩa về tính TL nhƣ sau: TL là tự sức mình làm lấy, không dựa dẫm, nhờ vả vào ngƣời khác (tự làm mọi việc, tinh thần tự lực, tự cƣờng).