LỜI MỞ ĐẦU Làng nghề là một trong những nét văn hóa rất đặc trưng của nước ta. Hiện nay Đảng và Nhà Nước ta đã chú trọng vào việc phát triển các làng nghề nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội, giải quyết vấn đề việc làm tại các làng nghề đồng thời góp phần gìn giữ những ngành nghề truyền thống của Việt Nam không bị mai một. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước, nhiều làng nghề ở nước ta đang được khôi phục và phát triển. Sản xuất sản phẩm làng nghề đang dần trở thành một nghề chính của nhiều người dân trong khu vực làng nghề.
Thành phố Hải Phòng cũng nằm trong xu thế đó. Các sản phẩm của làng nghề không chỉ để phục vụ sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm cả các sản phẩm mỹ nghệ , đồ thờ, dụng cụ sản xuất, … nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường và khu vực lân cận. Việc phát triển làng nghề đã đem lại nhiều hiệu quả kinh tế xã hội, bên cạnh đó những tác động tiêu cực đến môi trường sống, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng. Do trình độ công nghệ thấp, chậm đổi mới, cơ sở vật chất còn nghèo nàn,hạ tầng kém, trình độ quản lý còn hạn chế, … đã làm cho môi trường ở hầu hết các làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng.
Thành phố Hải Phòng là địa phương tập trung các làng nghề lớn trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, những điểm nóng về ô nhiễm môi trường đã bắt đầu xảy ra tại các khu vực có làng nghề trên địa bàn. Một người dân ở khu vực Phương Mỹ, xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên cho biết:v “Mặc dù đã được quy hoạch nhưng khu làng nghề vẫn ở gần khu dân sinh. Nhiều xưởng còn không có ống khói hoặc có cũng chỉ thấp lè tè, khí độc không bay đi được nên gặp gió là tạt hết vào nhà dân xung quanh, làm các cháu nhỏ hay mắc bệnh về đường hô hấp”. Cả làng nghề Mỹ Đồng hiện có 111 cơ sở sản xuất đúc kim loại và gia công cơ khí, “góp sức” làm cho môi trường không khí tại khu vực này bị ô nhiễm nặng.
Là một làng nghề đã tồn tại khá lâu trên địa bàn Hải Phòng và cũng là một điểm nóng gây nhiều bức xúc về môi trường, làng nghề đúc cơ khí Mỹ Đồng nói riêng và làng nghề Hải Phòng nói chung do đặc thù sản xuất của làng nghề cũng như ý thức bảo vệ môi truòng của người dân trong làng nghề chưa cao dẫn tới tình Sinh viên: Nguyễn Xuân Hùng – MT1201 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Lê Sơn trạng môi trường làng nghề ngày càng ô nhiễm trầm trọng hơn. Các cấp chính quyền, các ban ngành địa phương đã có nhiều biện pháp, giải pháp nhằm giải thiểu ô nhiễm môi trường tại làng nghề. Tuy nhiên đến nay vấn đề môi trường của làng nghề vẫn chưa được cải thiện nhiều, gây nhiều bức xúc về môi trường đối với người dân địa phương. Đề tài: “Môi trƣờng làng nghề Hải Phòng - Những vấn đề bức xúc và giải pháp quản lý môi trƣờng” được thực hiện nhằm góp phần đưa ra một số giải pháp khả thi trong vấn đề quản lý môi trường đối với làng nghề trên địa bàn Hải Phòng, góp phần bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững.
Sinh viên: Nguyễn Xuân Hùng – MT1201 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Lê Sơn CHƢƠNG I : QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG LÀNG NGHỀ 1.1 Quản lý môi trƣờng 1.1 Phát triển bền vững. Khái niệm Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả các sinh vật khác không thể đình chỉ tiến hóa và ngừng sự phát triển của mình. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng phải giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường.
Do đó, năm 1987 Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm Phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ”. Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 qui tắc: 1. Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái Đất. Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm tài nguyên tái tạo và không tái tạo được.
Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái Đất. Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng. Cải thiện chất lượng cuộc sống con người. Xây dựng thái độ mới, thay đổi thói quen của mọi người đối với thiên nhiên.
Cho phép các cộng đồng tự quản lấy môi trường của mình. Tạo ra cơ cấu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc bảo vệ môi trường. Xây dựng một cơ cấu liên minh toàn cầu, không một quốc gia nào được lợi hay thiệt riêng mình khi toàn cầu có một môi trường trong lành hay ô nhiễm. Chúng ta phải biết rằng phát triển sẽ làm biến đổi môi trường, vấn đề là phải làm sao cho môi trường tuy biến đổi nhưng vẫn thực hiện đầy đủ được ba chức năng cơ bản của nó là: tạo cho con người một không gian sống với phạm vi Sinh viên: Nguyễn Xuân Hùng – MT1201 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Lê Sơn và chất lượng tiện nghi cần thiết; cung cấp cho con người những tài nguyên cần thiết để sản xuất, sinh sống; nơi chôn vùi các phế thải sản xuất và sinh hoạt giữ không cho phế thải làm ô nhiễm môi trường.
Đó chính là phát triển bền vững. Phân loại PTBV bao gồm ba thành phần cơ bản: Môi trường bền vững, xã hội bền vững và kinh tế bền vững. + Môi trường bền vững: Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng bảo vệ môi trường tự nhiên và sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất. + Xã hội bền vững: Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
+ Kinh tế bền vững : Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững. Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vương chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mạng lại thuận lợi cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.2 Quản lý môi trƣờng Cùng với sự phát triển vấn đề môi trường đang là một thách thức lớn.
Con người ngày càng gây ra những tác động sâu sắc hơn đến môi trường nhằm thỏa mãn các nhu cầu đang gia tăng.Và chính con người đã phải trả giá cho những gì mình đã gây ra. Hàng loạt vấn đề môi trường xảy ra do chất lượng môi trường bị Sinh viên: Nguyễn Xuân Hùng – MT1201 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Lê Sơn giảm sút như dân số toàn cầu tăng nhanh, sự nghèo đói, sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát thải quá mức “khí nhà kính”. Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực nhằm cải thiện chất lượng môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững, tuy nhiên hiện trạng môi trường vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Thực trạng trên đòi hỏi các quốc gia phải nỗ lực hơn nữa, và QLMT là yêu cầu mang tính tất yếu.
QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức, và hướng đích của chủ thể QLMT lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể QLMT, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu QLMT đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành. Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể QLMT chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của QLMT nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường. Việc sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống là việc sử dụng có hiệu quả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống môi trường trong điều kiện tương tác với các hệ thống khác, chấp nhận các rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống. Việc tuân thủ luật pháp và các thông lệ (công ước quốc tế) hiện hành là việc tiến hành các hoạt động phát triển theo đúng những điều mà luật pháp trong nước và quốc tế không cấm, những công ước mà thế giới đã thỏa thuận.
Thực chất của QLMT là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường. *) Có nhiều chủ thể cùng tham gia hoạt động QLMT: Các chủ thể có thể bao gồm Nhà Nước, doanh nghiệp, người dân, các tổ chức phi Chính phủ (NGO)… *) Đối tượng của QLMT bao gồm: - Các loại chất gây ô nhiễm: Có thể phân ra thành các loại chất gây ô nhiễm nước, chất gây ô nhiễm không khí và chất gây ô nhiễm đất. Tuy nhiên, để nhận dạng và phát hiện chúng nhằm đưa vào quản lý không phải là điều dễ dàng. Điều này liên quan đến kĩ thuật, trình độ quản lý và cả chính sách.
Sinh viên: Nguyễn Xuân Hùng – MT1201 10 Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.