CHƯƠNG 1 LÝ DO CHON ĐỀ TÀI - MỤC TIÊU - NỘI DUNG - GIỚI HẠN - LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong quá trình phát triển kinh tế, để phát triển nhanh chóng và vững chắc can phải sử dụng tổng hợp toàn bộ điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy tổ chức nghiên cứu tổng hợp mỗi vùng lãnh thổ bằng phương pháp Địa Cảnh học hiện đại là biện pháp tích cực và hiệu quả. Lý thuyết Địa Sinh Thái (DST) đời trên cơ sở tiếp cận giữa địa lý học và sinh thái học.
Nghiên cứu Địa Tổng Thể (DTT) tự nhiên của một khu vực theo quan điểm DST là nhằm tìm mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hữu cơ và vô cơ của mỗi Hệ Địa Sinh Thái (HĐST). Hệ ĐST là một hệ thống tự nhiên của môi trường, một hệ thống động lực hở, tự diéu chỉnh, có ranh giới xác định. Có sự thống nhất biện chứng giữa các hợp phần cấu tạo và đơn vị cấu tạo. Trong quá trình thco học chuyên ngành Địa Lý, tiếp cận cảnh quan học, hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan, phương pháp nghiên cứu DLTN địa phương, chúng tôi bước đầu vận dụng vào nghiên cứu ĐLTN vùng đồng bằng Sông Cửu Long theo quan điểm DST.
Với mong muốn góp chút gì cho sự phát triển kinh tế vùng đồng bằng Sông Cưu Long nói riêng và cả nước nói chung nên Em đã chọn để tài: “Nghiên cứu phân vùng Địa Sinh Thái ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” để làm khóa luận tốt nghiệp 1. MỤC TIỂU: — Phân vùng Địa Sinh Thái nhằm phát hiện sự phân hóa khách quan của những sự giống nhau và khác nhau theo lãnh thổ sinh thái , những địa tổng thể các cấp bậc liên quan với những sự giống nhau và khác nhau đó ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Nghĩa là giữa các hợp phan cấu tạo có mối quan hệ mang tính quy luật (tram tích- địa mạo: địa mạo- thổ nhưỡng thủy văn- địa mạo). SVTH: Phạm Ngọc San Trang 3 Latin căm AV s4 GVHD: Th.s Trân Văn Thành — Phân vùng DST nhằm phát hiện ra những cảnh quan sinh thái tự nhiên để định hướng và quy họach các cụm ,khu ,vùng , tuyến du lịch sinh thái , phù hợp với điểu kiện sinh thái của mỗi vùng.
~ Phân vùng Địa Sinh Thái theo các cấp trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây. Chúng tôi tiếp tục phân xuống cấp bậc nhỏ hơn — đó là cấp Cảnh Sinh Thái. NỘI DUNG: Những nhiệm vụ cẩn giải quyết khi thực hiện để tài: a) Tìm hiểu cơ sở lý luận Địa Sinh Thái, quan điểm Địa Cảnh học. b) Phân tích sự phân hóa lãnh thổ đồng bằng Sông Cửu Long theo cấu trúc ngang bằng việc phân tích mối quan hệ có tính quy luật của Trầm Tích - Địa Mao; Dia mao -Thổ Nhưỡng; Thủy văn — Địa mạo.
c) Xác định hệ thống phân vị và tiến hành phân chia các đơn vị Địa Sinh Thái ở đồng bằng Sông Cửu Long. d) Xây dựng bản đổ phân vùng Địa Sinh Thái, lập mặt cất tổng hợp và bản tả. GIỚI HẠN: Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu phân vùng đồng bằng Sông Cửu Long trước đây. Chúng tôi tiếp tục phân xuống cấp Cảnh Sinh Thái (CST).
Để tài này không đi sâu nghiên cứu cấu trúc chức năng (cấu trúc động lực) của mỗi đơn vị ĐST. Tuy dưới cấp CST còn có sự phân hóa thành các cấp nhỏ hơn nữa như: Dạng Sinh Thái, Diện Sinh Thái. Nhưng do hạn chế vé thời gian, tài liệu cũng như trình độ nên chúng tôi chỉ dừng lại ở đơn vị CST. Các cấp đơn vị CST chúng tôi chỉ dừng lại mô tả qua bản tả đăc trưng mà không đi vào mô tả chỉ tiết từng CST; Chúng tôi chỉ mô tả chỉ tiết ở cấp á khu sinh thái, vùng sinh thái, 4 vùng sinh thái.Trong mô tả các đơn vị DST chúng tôi có nêu hiện trang sử dung đất và mô hinh sử dung hợp lý nhưng chỉ để tham khảo.
Trong á khu sinh thái Đảo và Quần Đảo chúng tôi chỉ phân đến cấp cảnh sinh thái. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU: 1. SVTH: Phạm Ngọc San Trang 4 Latin sản tht nghits GVHD: Th.s Trân Văn Thành Trong suốt thế kỉ XIX và XX công tác nghiên cứu điều tra cơ bản tập trung nghiên cứu các qui luật tự nhiên của từng ngành (địa chất, thủy văn, thổ nhưỡng). Từ năm 1970 trở lại đây việc nghiên cứu ấy đã đi vào công tác diéu tra tổng hợp nhằm phục vụ cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và môi trường mới thực sự được quan tâm và đạt được kết quả khả quan.
* Ở Đức: Hướng nghiên cứu cảnh quan khá phát triển tiêu biểu là công trình của G. * Ở Pháp: Trường phái Mont pcllucr, trong đó có G.Betrand đã tiếp cận cảnh quan học trong nghiên cứu địa lí.bertrand định nghĩa: “Cảnh Quan là một kiểu phối hợp động - tức là bất ổn của những yếu tố địa lý khác nhau, kể cả những yếu tố tự nhiên, sinh vật và con người ”. * Ở Canada: Hướng nghiên cứu tổng hợp được dựa trên cơ sở sinh thái học nhằm mục đích thiết kế dự án qui hoạch khai thác nông nghiệp. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của I.
Các kiểu cảnh quan được xếp theo ba bậc từ trên xuống. Mỗi kiểu Cảnh Quan được đặc trưng bằng các yếu tố tự nhiên (địa chất, địa mạo, thực vật). * Ở Bỉ: Hướng nghiên cứu được áp dụng từ năm 1971. Hệ thống phân vùng thổ nhưỡng.
Sinh thái của Bỉ nhằm mục đích xây dựng bản 46 khai thác tiểm năng nông nghiệp, phi nông nghiệp, du lịch. Việc nghiên cứu chú ý đến quan hệ địa lý với hệ thống thổ nhưỡng sinh thái và hệ sinh vật, coi trọng mối liên hệ có tính qui luật của các yếu tố khí tượng thủy văn, địa mạo, mẫu chất, thổ nhưỡng, sinh vật và thời gian để ghép nhóm sinh thái và xác định chỉ tiều phân vùng. Nhìn chung hướng nghiên cứu tổng hợp sinh thái cảnh quan của các nước trên thế giới ngày càng được cũng cố và phát triển. Hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở việt nam.
Những năm 1980 trở lại đây các nhà khoa học Việt Nam đã vận dụng có kết quả hướng nghiên cứu tổng hợp có định hướng trong điểu tra cơ bản và đạt kết quả mong muốn thông qua các công trình 52-02; 60-02; 48A: 48B. -— ————--= >ï = ——— —— SVTH: Phạm Ngọc San Trang 5 Sạn căn tht sg“ại GVHD: Th.s Trân Văn Thành Tuy vậy cuộc điều tra cơ bản vẫn còn nhiều vấn để trao đổi không những dừng lại ở những quan điểm thuần túy tự nhiên như trước, mà phải chú ý đến các khía cạnh sinh thái, nhân văn, kinh tế của những đối tượng nghiên cứu. Về khía cạnh tổ chức lãnh thổ và môi trường cần phải có một chiến lược và các biện pháp thực hiện. Hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở đồng bằng SCL.1 Chương trình 60-02 (điều tra cơ bản vùng đồng bằng Sông Cửu Long) Chương trình đã từng bước đi sâu từng bộ phận, đã thu được những kết quả khả quan.
Nhất là bản đồ đất do Trương Đình Phú và Châu Văn Hạnh. Chương trình đã xây dựng hệ thống phân loại đất, bổ sung chỉnh lý nhất là các khu vực đất màu, đất phèn. Việc phân loại này dựa trên mối quan hệ giữa địa mạo-thổ nhưỡng phát sinh. Nêu được khía cạnh chỉ tiết về tính chất, đặc điểm của từng đơn vị trên địa bàn cụ thể với các biểu loại đac trưng.
Nhung các đơn vị đất đá được xé nhỏ và biểu diễn trên bản 46 của từng khu vực. Tuy vậy do tập hợp trên cơ sở những sơ đổ đất tỉ lệ 1/25.000 nên thiếu cơ số lý luận vững chắc. Chương trình đã xây dựng được bản đổ địa mao, thổ nhưỡng, bản đổ tổng hợp các yếu tố tự nhiên, bản đổ địa chất 1/100.2 Công trình nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên của G. Công trình đã đi sâu nghiên cứu lãnh thổ tự nhiên vòng đồng bằng Sông Cửu Long và phân vùng tư nhiên làm 5 vùng: * Vùng đồng bằng trung tâm - A vùng Phú Châu — Long Xuyên - Cao Lãnh - A vùng Can Thơ - Sa Déc - Vĩnh Long - A vùng Mỹ Tho - Bến Tre - Sóc Trăng * Ving Đồng Tháp Mười * Ving đất tring Tây Sông Hậu - A vùng tứ giác Long Châu Sa - A vùng tring nội địa “——- —___ Ễˆ—— s"——_—_——====emm=e=—=——————— SVTH: Phạm Ngọc San Trang 6 Latn cản tht nghisp GVHD: Th.s Trần Văn Thành * Vùng Minh Hải - Cà Mau - A vùng đồng lẫy nước mặn ven biển.
- A vùng đồng trũng nội địa. * Vùng đảo Phú Quốc và các Đảo bao quanh. Tác giả mô tả về các vùng và 4 vùng, xây dựng sơ đổ phân vùng. Chương trình 60-B (điều tra cơ bản tổng hợp vùng đồng bằng Sông Cửu Long) Chương trình báo cáo tổng hợp về Tài Nguyên — Môi Trường — Phát Triển do GS.TS Nguyễn Ngọc Trân chủ biên.
Chương trình đã tiến hành phân vùng tự nhiên đồng bằng Sông Cửu Long thành 4 vùng; * Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu * Đồng Tháp Mười * Bán đảo Cà Mau * Tứ giác Long Xuyên Chương trình đã tiến hành mô tả đặc điểm tự nhiên của từng vùng. Hiện trạng khai thác tài nguyên của từng vùng. Đã xây dựng cơ sở khoa học để phân vùng tự nhiên. Công trình nghiên cứu phân vùng Sinh Thái nông nghiệp của Trần An Phong và nnk (1986) Công trình đã nghiên cứu và phân thành 9 vùng ĐST.
Vùng phù Sa giữa và ven sông Tiền sông Hậu fpSmeor Vùng đồng bằng ven biển Vùng trung tâm bán đảo Cà Mau Vùng đồng bằng duyên hải hiện đại Vùng tring U Minh Vùng tring Đồng Tháp Mười Vùng trũng Hà Tiên Vùng thểm phù sa cổ Vùng Bảy Núi SVTH: Phạm Ngọc San Trang 7 Lutn vite tt nghith GVHD: Th.s Trần Văn Thành CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2. Cơ sở lý luận địa sinh thái Hệ thống ĐST là sự cụ thể hóa quan điểm hệ thống nói chung vào việc nghiên cứu MTTN (Vũ Tự Lập, 1987). Viện sĩ Gerasimov dùng thuật ngữ HĐST (Ecological gcosystem) để chỉ các hệ thống sinh thái của môi trường.
Và ông định nghĩa: “Hệ địa sinh thái là hệ thống tự nhiên của môi trường ”. Hệ ĐST là một hệ thống lực hở, tự điểu chỉnh có ranh giới xác định và có sự thống nhất biện chứng giữa các thành phân, đơn vị cấu tạo. Khái niệm HĐST là khái niệm chung dùng cho tất cả các đơn vị từ nhỏ đến lớn và có những đặc tính khác nhau.