Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền sử dụng đất (QSDĐ) là một loại tài sản đặc biệt thuộc hình thức sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tặng cho QSDĐ là một trong những giao dịch dân sự diễn ra phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu phân chia tài sản, hỗ trợ kinh tế, tương thân tương ái trong gia đình và đời sống xã hội. Cơ sở pháp lý trọng tâm điều chỉnh quan hệ này hiện nay là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) kết hợp cùng Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về hợp đồng tặng cho QSDĐ còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Khác với BLDS năm 2005 (vốn dành riêng một mục với các điều khoản từ Điều 722 đến Điều 726 để quy định cụ thể về hợp đồng tặng cho QSDĐ), BLDS năm 2015 đã lược bỏ các điều khoản riêng này và thay thế bằng các quy định chung về hợp đồng về QSDĐ (từ Điều 500 đến Điều 503) kết hợp với các quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản (từ Điều 457 đến Điều 462). Sự điều chỉnh này dẫn đến tình trạng một số quy định chỉ dừng lại ở tính nguyên tắc chung, chưa cụ thể hóa cho đối tượng đặc thù là bất động sản QSDĐ, thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết và thậm chí có sự mâu thuẫn giữa một số điều luật. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng cùng áp lực gia tăng dân số khiến các quan hệ tài sản liên quan đến đất đai ngày càng phức tạp, làm phát sinh nhiều tranh chấp dân sự gay gắt tại Tòa án. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện về hợp đồng tặng cho QSDĐ dưới góc độ pháp luật dân sự là yêu cầu cấp thiết.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Mai Hương (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, do TS. Lê Thị Giang hướng dẫn khoa học) xác định rõ 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hợp đồng tặng cho QSDĐ theo quy định của pháp luật dân sự, tạo lập góc nhìn đa chiều về các vấn đề pháp lý liên quan.
- Nghiên cứu các quy định của BLDS năm 2015 về hợp đồng tặng cho QSDĐ trong khuôn khổ chế định chung về nghĩa vụ và hợp đồng, đặt trong mối quan hệ so sánh với BLDS năm 2005 để làm rõ những thay đổi của pháp luật hiện hành.
- Góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về hợp đồng tặng cho QSDĐ, nhận diện rõ quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như đánh giá khách quan về hoạt động giao kết hợp đồng.
- Đưa ra các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật dân sự Việt Nam về hợp đồng tặng cho QSDĐ, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên tặng cho, bên được tặng cho và bên thứ ba.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân bổ tương ứng qua 3 chương nội dung: làm rõ lý luận ở Chương 1; phân tích thực trạng quy định pháp luật ở Chương 2; đánh giá thực tiễn áp dụng qua bản án, án lệ và đề xuất kiến nghị ở Chương 3.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận gồm 3 nhóm nội dung chính:
- Các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tặng cho QSDĐ theo BLDS năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 và các ngành luật liên quan, bao gồm quy định về điều kiện hiệu lực, quyền và nghĩa vụ các bên, các trường hợp hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý.
- Các công trình nghiên cứu khoa học chuyên khảo, luận án, luận văn, bài viết tạp chí chuyên ngành luật học về chế định tặng cho tài sản và tặng cho QSDĐ.
- Thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật tại Tòa án và hoạt động công chứng, chứng thực đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tặng cho QSDĐ.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về văn bản quy phạm pháp luật: Khóa luận tập trung nghiên cứu BLDS năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Hiến pháp năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Thi hành án dân sự năm 2014, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu được thực hiện và áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Rà soát các quy định pháp luật và các bản án thực tiễn chủ yếu từ thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/01/2017) đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về đất đai và sở hữu.
Khung pháp lý và khái niệm nền tảng bao gồm:
- Chế độ sở hữu đất đai: Điều 54 Hiến pháp năm 2013, Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 197 BLDS năm 2015 quy định đất đai là tài sản công, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
- Quyền tài sản và Bất động sản: Điều 105, Điều 107 và Điều 115 BLDS năm 2015 xác định QSDĐ là quyền tài sản trị giá được bằng tiền và là một loại bất động sản đặc thù phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
- Chế định hợp đồng: Điều 385 (khái niệm hợp đồng), Điều 457 (hợp đồng tặng cho tài sản), Điều 459 (tặng cho bất động sản), Điều 461 (thông báo khuyết tật tài sản), Điều 462 (tặng cho tài sản có điều kiện) và các Điều từ 500 đến 503 (hợp đồng về QSDĐ) của BLDS năm 2015.
- Điều kiện giao dịch đất đai: Điều 167 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho QSDĐ.
Tác giả kế thừa và đối thoại học thuật với các công trình tiêu biểu:
- Các nghiên cứu của TS. Lê Thị Giang (2018, 2019, 2022) về hợp đồng tặng cho tài sản, tặng cho có điều kiện và xử lý tranh chấp khi bên nhận không thực hiện điều kiện.
- Nghiên cứu của TS. Vũ Thị Hồng Yến (2018) về bình luận quy định của BLDS năm 2015 đối với hợp đồng tặng cho tài sản.
- Công trình của TS. Nguyễn Hải An (2011, 2012) về cơ sở lý luận và thực tiễn chế định tặng cho QSDĐ ở Việt Nam.
- Giáo trình và chuyên khảo của PGS.TS. Đỗ Văn Đại (2017), Trường Đại học Luật Hà Nội (2019, 2021) và Học viện Tư pháp (2015).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, bản chất pháp lý của QSDĐ, hợp đồng tặng cho QSDĐ thông thường và hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015, giữa pháp luật đất đai và pháp luật dân sự qua các thời kỳ lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử pháp lý: Khái quát quá trình phát triển của chế định tặng cho đất đai qua 4 giai đoạn lập pháp từ năm 1945 đến nay.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn và đánh giá án lệ: Khảo sát, phân tích các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023 nhằm chỉ ra những vướng mắc thực tiễn.
Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, giáo trình đào tạo luật học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành và hồ sơ xét xử thực tế của Tòa án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về QSDĐ và bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho QSDĐ với các nội dung trọng tâm:
- Khái niệm và đặc điểm QSDĐ: Khóa luận chỉ ra rằng Luật Đất đai hiện hành không đưa ra định nghĩa trực tiếp về QSDĐ mà chỉ định nghĩa các thuật ngữ liên quan (chuyển QSDĐ, giá trị QSDĐ). Tác giả tổng hợp quan điểm của các học giả (TS. Lê Xuân Bá, Đinh Trọng Tân, Giáo trình Đại học Luật Hà Nội) và đưa ra định nghĩa: QSDĐ là một loại quyền tài sản gắn liền với đất đai, được Nhà nước trao cho người sử dụng đất để khai thác, sử dụng nhằm phục vụ cuộc sống; người sử dụng đất có quyền chuyển QSDĐ nhưng phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định. QSDĐ có 4 đặc điểm pháp lý: (1) Là quyền phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai; (2) Là một loại bất động sản theo điểm c khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015; (3) Là loại quyền tài sản đặc biệt có tính hạn chế cao; (4) Vừa mang tính phụ thuộc vừa mang tính độc lập tương đối đối với quyền sở hữu của Nhà nước.
- Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tặng cho QSDĐ: Tác giả xây dựng khái niệm: Hợp đồng tặng cho QSDĐ là sự thống nhất ý chí bằng văn bản giữa bên tặng cho và bên được tặng cho trong việc dịch chuyển QSDĐ, theo đó bên tặng cho giao QSDĐ cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Hợp đồng có 3 đặc điểm bản chất:
- Là hợp đồng thực tế: Đối tượng tặng cho phải là tài sản hiện hữu, không thể là tài sản hình thành trong tương lai; hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực đầy đủ và chuyển quyền khi hoàn tất thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Là hợp đồng không có đền bù: Xuất phát từ yếu tố tình cảm, huyết thống hoặc tương trợ xã hội; bên tặng cho không có quyền yêu cầu bất kỳ lợi ích vật chất tương ứng nào từ bên nhận.
- Là hợp đồng đơn vụ: Tác giả lập luận bên tặng cho chỉ có nghĩa vụ giao đất và giấy tờ mà không có quyền đối ứng; bên nhận chỉ có quyền nhận mà không có nghĩa vụ đền bù. Nghĩa vụ làm thủ tục sang tên là nghĩa vụ hành chính trước Nhà nước, không phải nghĩa vụ đối ứng dân sự giữa hai bên.
- Phân loại hợp đồng:
- Căn cứ theo ý chí: Hợp đồng tặng cho QSDĐ thông thường và Hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện (Điều 462 BLDS năm 2015).
- Căn cứ theo đối tượng: Tặng cho QSDĐ không có tài sản gắn liền và Tặng cho QSDĐ có tài sản gắn liền trên đất.
- Lịch sử lập pháp: Tác giả hệ thống hóa quá trình phát triển của chế định này qua 4 giai đoạn lịch sử được tổng hợp tại bảng dưới đây:
| Giai đoạn lịch sử |
Văn bản pháp lý tiêu biểu |
Bản chất chế định tặng cho quyền sử dụng đất |
| 1945 – trước Hiến pháp 1980 |
Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 55/SL (1952), Luật Cải cách ruộng đất 1953, Hiến pháp 1959, Thông tư 48/TTg (1963) |
Thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai; người sở hữu có quyền bán, cho, tặng, đổi, thừa kế ruộng đất theo trình tự trước bạ. |
| 1980 – trước Luật Đất đai 2003 |
Hiến pháp 1980, Luật Đất đai 1987, Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993, BLDS 1995 |
Xác lập sở hữu toàn dân về đất đai; Luật 1987 cấm chuyển nhượng, phát canh thu tô; Hiến pháp 1992 và Luật 1993 cho phép chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp; BLDS 1995 quy định tặng cho bất động sản nhưng Luật Đất đai 1993 chưa quy định cụ thể quyền tặng cho QSDĐ. |
| Luật Đất đai 2003 & BLDS 2005 – trước Luật Đất đai 2013 & BLDS 2015 |
Luật Đất đai 2003 (Điều 106), BLDS 2005 (Điều 722 – Điều 726) |
Lần đầu tiên quyền tặng cho QSDĐ được Luật Đất đai 2003 ghi nhận rõ ràng; BLDS 2005 dành riêng một mục với 5 điều quy định chi tiết về khái niệm, nội dung, quyền và nghĩa vụ các bên. |
| Luật Đất đai 2013 & BLDS 2015 đến nay |
Hiến pháp 2013, Luật Đất đai 2013, BLDS 2015 (Điều 129, Điều 457–462, Điều 500–503) |
Luật Đất đai 2013 kế thừa điều kiện tặng cho; BLDS 2015 bãi bỏ các điều luật riêng về hợp đồng tặng cho QSDĐ, chuyển sang áp dụng quy định chung về hợp đồng về QSDĐ và bổ sung Điều 129 về công nhận hiệu lực giao dịch vi phạm hình thức. |
- Ý nghĩa pháp lý: Quy định về hợp đồng tặng cho QSDĐ có 4 ý nghĩa: (1) Nâng cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng; (2) Thiết lập hành lang pháp lý quản lý nhà nước về đất đai; (3) Là công cụ giúp Nhà nước điều tiết, bảo đảm phát triển kinh tế; (4) Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, giảm thiểu tranh chấp và khiếu kiện.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hợp đồng tặng cho QSDĐ:
-
Quy định chung về hợp đồng tặng cho QSDĐ:
- Chủ thể: Cá nhân tham gia phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự (từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất, hạn chế hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo các Điều 16, 19, 20, 22, 23 BLDS năm 2015). Người đại diện theo pháp luật không được phép đem tài sản của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự tặng cho người khác. Pháp nhân phải đáp ứng đủ 4 điều kiện tại Điều 74 BLDS năm 2015. Hộ gia đình không có tư cách pháp nhân thì các thành viên có chung QSDĐ phải trực tiếp tham gia hoặc ủy quyền bằng văn bản (Điều 101 BLDS năm 2015). Yếu tố tự nguyện là điều kiện bắt buộc; hợp đồng bị vô hiệu nếu có sự lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn (Điều 117, 126, 127 BLDS năm 2015).
- Đối tượng và điều kiện tặng cho: Căn cứ khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, QSDĐ tham gia hợp đồng tặng cho phải đáp ứng 4 điều kiện: (1) Có Giấy chứng nhận QSDĐ; (2) Đất không có tranh chấp; (3) QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án (theo Điều 110, 111 Luật Thi hành án dân sự năm 2014); (4) Trong thời hạn sử dụng đất. Tác giả chỉ ra hạn chế của quy định "đất không có tranh chấp" vì quá rộng, đề xuất nên giới hạn là "không có tranh chấp về quyền sở hữu/sử dụng" để tránh việc bên thứ ba khiếu nại các vấn đề phụ nhằm cố tình phong tỏa quyền định đoạt của người sử dụng đất.
- Hình thức hợp đồng: Bắt buộc phải lập thành văn bản có công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã (theo khoản 1 Điều 459 BLDS năm 2015 và điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013), trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương theo khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014.
- Quyền và nghĩa vụ các bên: Bên tặng cho có nghĩa vụ giao đất đúng hiện trạng, diện tích, vị trí; giao giấy tờ pháp lý; thông báo khuyết tật của tài sản theo Điều 461 BLDS năm 2015 (nếu biết mà không thông báo thì phải bồi thường thiệt hại). Bên được tặng cho có quyền yêu cầu bàn giao, quyền đăng ký sang tên, quyền khai thác sử dụng; có nghĩa vụ đăng ký QSDĐ tại cơ quan nhà nước, bảo đảm quyền của người thứ ba và thực hiện nghĩa vụ tài chính.
- Chấm dứt hợp đồng: Hợp đồng chấm dứt theo Điều 422 BLDS năm 2015 khi hoàn thành; theo thỏa thuận; cá nhân/pháp nhân giao kết chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính chủ thể thực hiện; bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt (việc hủy bỏ văn bản công chứng phải tuân thủ Điều 51 Luật Công chứng năm 2014); hoặc khi đối tượng không còn (như đất bị Nhà nước thu hồi trước khi hoàn tất đăng ký).
-
Quy định về hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện (Điều 462 BLDS năm 2015):
- Yêu cầu đối với điều kiện: Phải được xác định cụ thể; không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 123 BLDS năm 2015); có khả năng thực hiện được trên thực tế; không làm mất tính chất không có đền bù. Về tính không đền bù, tác giả phân tích hai luồng quan điểm và lựa chọn quan điểm thứ hai: chấp nhận các điều kiện mang lại lợi ích vật chất nhỏ hoặc nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ già theo phong tục tập quán truyền thống mà không coi đó là hợp đồng có đền bù.
- Thời điểm phát sinh hiệu lực và trách nhiệm: Nếu điều kiện thực hiện trước khi tặng cho, hợp đồng có hiệu lực khi bên tặng cho giao đất sau khi bên nhận hoàn thành nghĩa vụ; nếu bên tặng cho không giao đất thì phải thanh toán giá trị nghĩa vụ bên nhận đã làm. Nếu điều kiện thực hiện sau khi tặng cho, hợp đồng có hiệu lực từ khi nhận đất và đăng ký; nếu bên nhận không thực hiện nghĩa vụ thì bên tặng cho có quyền đòi lại đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
-
Đánh giá thành tựu và hạn chế:
- Thành tựu: BLDS năm 2015 tạo tính khái quát cao, tránh trùng lặp quy định; quy định viện dẫn áp dụng chế định chung về hợp đồng; ý thức lập hợp đồng có công chứng của người dân được nâng lên rõ rệt.
- Hạn chế: Thói quen tặng cho bằng miệng hoặc viết tay trong nội bộ gia đình vẫn phổ biến dẫn đến giao dịch vi phạm hình thức; thiếu quy định xử lý trường hợp bên nhận đã thực hiện một phần nghĩa vụ trong hợp đồng có điều kiện nhưng bên tặng cho chết; quy định về điều kiện tranh chấp đất đai còn mơ hồ.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Chương 3 tổng kết việc áp dụng các quy định trên thực tế thông qua các vụ án dân sự cụ thể tại Tòa án và đưa ra định hướng lập pháp:
- Thực tiễn áp dụng:
- Khảo sát các tranh chấp về điều kiện vô hiệu do vi phạm hình thức theo Điều 129 BLDS năm 2015, đặc biệt là các trường hợp tặng cho QSDĐ bằng giấy viết tay nhưng bên nhận đã xây dựng nhà ở kiên cố, sinh sống ổn định và thực hiện trên 2/3 nghĩa vụ.
- Thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện phụng dưỡng, nuôi dưỡng: Tòa án thường gặp khó khăn trong việc xác định chứng cứ chứng minh ý chí tặng cho có điều kiện khi các bên chỉ thỏa thuận miệng mà không ghi điều kiện phụng dưỡng vào văn bản công chứng.
- Tranh chấp liên quan đến quyền định đoạt QSDĐ của hộ gia đình khi một số thành viên trong hộ không ký tên vào hợp đồng tặng cho.
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai theo hướng làm rõ tiêu chí "đất không có tranh chấp" tại Điều 188, quy định cụ thể chỉ những tranh chấp trực tiếp về quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai mới làm tạm dừng quyền tặng cho.
- Thứ hai, bổ sung văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 462 BLDS năm 2015 đối với hợp đồng tặng cho bất động sản có điều kiện, quy định rõ cơ chế hoàn trả chi phí và bảo lưu quyền lợi khi bên tặng cho qua đời trong lúc bên nhận đang thực hiện nghĩa vụ dở dang.
- Thứ ba, Tòa án nhân dân Tối cao cần ban hành thêm án lệ hướng dẫn áp dụng Điều 129 BLDS năm 2015 đối với các giao dịch tặng cho QSDĐ vi phạm điều kiện công chứng, chứng thực nhưng đã bàn giao đất và xây dựng công trình ổn định lâu dài.
Kết quả và đóng góp
Công trình khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu và quy phạm thực định:
- Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý điều chỉnh hợp đồng tặng cho QSDĐ theo 2 trụ cột chính là BLDS năm 2015 (các Điều 105, 107, 115, 117, 129, 197, 457, 459, 461, 462, 500–503) và Luật Đất đai năm 2013 (các Điều 4, 5, 167, 188), cùng các luật chuyên ngành (Luật Công chứng năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Thi hành án dân sự năm 2014).
- Làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho QSDĐ thông qua việc phân tích và khẳng định 3 đặc tính cơ bản: là hợp đồng thực tế, hợp đồng không có đền bù và hợp đồng đơn vụ.
- Đưa ra giải pháp phân loại hợp đồng tặng cho QSDĐ thành 2 nhóm theo ý chí (thông thường và có điều kiện) và 2 nhóm theo đối tượng (đất trống và đất có tài sản gắn liền), chỉ rõ giá trị pháp lý và điều kiện hiệu lực của từng loại.
Các đề xuất và kiến nghị lập pháp do tác giả nêu ra gồm:
- Kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai nhằm cụ thể hóa khái niệm "đất không có tranh chấp", tránh việc áp dụng tùy tiện cản trở quyền định đoạt của người sử dụng đất hợp pháp.
- Đề xuất quy định chi tiết biểu mẫu và bắt buộc thể hiện rõ các cam kết, nghĩa vụ trong hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện khi tiến hành công chứng, chứng thực.
- Hoàn thiện quy định về xác định giá trị nghĩa vụ và chi phí thực tế mà bên nhận tặng cho đã bỏ ra trong trường hợp bên tặng cho đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc không thực hiện việc bàn giao đất.
Đóng góp của tác giả so với các nghiên cứu trước:
- Xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh về hợp đồng tặng cho QSDĐ trong bối cảnh BLDS năm 2015 đã bãi bỏ định nghĩa riêng từng tồn tại ở Điều 722 BLDS năm 2005.
- Luận giải sâu sắc về bản chất "đơn vụ" của hợp đồng tặng cho QSDĐ, bác bỏ quan điểm cho rằng hợp đồng tặng cho có điều kiện là hợp đồng song vụ bằng việc phân định rõ nghĩa vụ hành chính sang tên trước Nhà nước với nghĩa vụ dân sự đối ứng giữa các bên.
- Bảo vệ quan điểm chấp nhận điều kiện tặng cho gắn với phong tục tập quán (như nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng) mà không làm triệt tiêu bản chất không đền bù của giao dịch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn và định hướng nghiên cứu mở rộng được ghi nhận từ nội dung văn bản:
- Về hạn chế: Nghiên cứu tập trung vào khuôn khổ văn bản pháp lý hiện hành tại thời điểm thực hiện (BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013), chưa thể đánh giá toàn diện các tác động của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (nay là Luật Đất đai năm 2024); phạm vi khảo sát bản án chủ yếu tập trung từ mốc thời gian ngày 01/01/2017 đến năm 2023.
- Về hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sự tương thích và tác động của Luật Đất đai mới đối với chế định chuyển quyền sử dụng đất trong BLDS; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết xung đột pháp luật giữa quyền của bên thứ ba ngay tình và quyền đòi lại tài sản của bên tặng cho trong các giao dịch tặng cho QSDĐ có điều kiện bị vi phạm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật: Tài liệu phục vụ đắc lực cho việc học tập, nghiên cứu các học phần Luật Dân sự, Luật Đất đai và Kỹ năng tư vấn hợp đồng tại các cơ sở đào tạo luật học.
- Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Luật sư, Công chứng viên: Cung cấp cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn áp dụng các điều khoản phức tạp như Điều 129, Điều 462 BLDS năm 2015 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 trong quá trình giải quyết tranh chấp và công chứng giao dịch.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Phần luận giải lịch sử lập pháp qua 4 giai đoạn tại Mục 1.4; phân tích bản chất pháp lý của hợp đồng đơn vụ tại Mục 1.2; và các điều kiện pháp lý đối với hợp đồng tặng cho có điều kiện tại Mục 2.2.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả khẳng định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng đơn vụ kể cả khi có điều kiện kèm theo?
Theo lập luận của tác giả tại Mục 1.2.2 và Mục 2.1.4, hợp đồng tặng cho QSDĐ xuất phát từ quan hệ tình cảm, tương trợ không có đền bù. Bên tặng cho chỉ có nghĩa vụ chuyển giao tài sản mà không có quyền đối ứng; bên nhận có quyền nhận mà không có nghĩa vụ trả lại bất kỳ lợi ích vật chất tương xứng nào. Việc các bên thực hiện thủ tục đăng ký biến động, sang tên tại cơ quan nhà nước là thực hiện nghĩa vụ hành chính trước Nhà nước để phục vụ quản lý đất đai, không phải là nghĩa vụ dân sự đối ứng giữa hai chủ thể. Ngay cả khi có điều kiện, nghĩa vụ của bên nhận là điều kiện để được nhận tài sản chứ không biến giao dịch thành hợp đồng song vụ có đền bù.
2. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chính thức phát sinh hiệu lực pháp luật tại thời điểm nào?
Căn cứ khoản 1 Điều 459 BLDS năm 2015 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, QSDĐ là bất động sản bắt buộc phải đăng ký. Do đó, việc công chứng, chứng thực hợp đồng chỉ là điều kiện cần về mặt hình thức; hợp đồng tặng cho QSDĐ chỉ chính thức phát sinh hiệu lực pháp luật đầy đủ kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất vào sổ địa chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Tác giả chỉ ra điểm bất cập nào trong điều kiện "đất không có tranh chấp" tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013?
Tại Mục 2.1.2, tác giả phân tích rằng thuật ngữ "đất không có tranh chấp" được quy định quá rộng và chung chung, bao gồm cả các tranh chấp nhỏ về ranh giới, tài sản phụ gắn liền với đất hoặc tranh chấp giữa những người không có quyền sở hữu. Điều này dẫn đến việc nhiều trường hợp quyền định đoạt chính đáng của người sử dụng đất bị phong tỏa vô căn cứ khi có đơn khiếu nại. Tác giả kiến nghị cần sửa đổi theo hướng chỉ giới hạn ở "đất không có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất".
4. Việc bên nhận tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng có làm mất đi tính chất "không có đền bù" của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không?
Tại Mục 2.2.1, tác giả khẳng định việc kèm theo điều kiện phụng dưỡng, chăm sóc không làm mất đi tính không đền bù của hợp đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thống đạo đức, phong tục tập quán của người Việt Nam. Lợi ích chăm sóc, nuôi dưỡng không mang tính chất tương đương hay bù đắp ngang giá cho giá trị quyền sử dụng đất, do đó hợp đồng vẫn giữ nguyên bản chất là giao dịch tặng cho tài sản.
5. Khi bên tặng cho biết quyền sử dụng đất có khuyết tật nhưng không thông báo thì phải chịu trách nhiệm pháp lý gì?
Căn cứ Điều 461 BLDS năm 2015 được phân tích tại Mục 2.1.4, bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho về các khuyết tật của tài sản. Nếu bên tặng cho biết tài sản (hoặc tài sản gắn liền với đất) có khuyết tật mà cố tình không thông báo thì phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho; nếu bên tặng cho thực sự không biết về khuyết tật đó thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Mai Hương đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý xoay quanh chế định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo pháp luật dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ bản chất đơn vụ, tính không đền bù và tính chất hợp đồng thực tế của giao dịch, đồng thời chỉ ra các khoảng trống pháp lý khi áp dụng BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013. Các kiến nghị sửa đổi về tiêu chí xác định tranh chấp đất đai, hướng dẫn thi hành hợp đồng tặng cho có điều kiện và vận dụng quy định công nhận hiệu lực giao dịch vi phạm hình thức có giá trị đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và hoạt động xét xử tại Việt Nam.