Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phương pháp biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay" do sinh viên Trần Văn Bắc thực hiện tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của giảng viên Nguyễn Ngô Kế. Công trình thuộc chuyên ngành Giáo dục Chính trị, tập trung nghiên cứu sự vận dụng các nguyên lý, quy luật và phạm trù của triết học Mác - Lênin vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng thế giới cuối thế kỷ XX đang trải qua những biến động sâu sắc trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, cùng với xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa, đòi hỏi mỗi quốc gia phải giải quyết chính xác các yêu cầu của thời đại. Đặc biệt, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã đẩy phong trào cách mạng thế giới vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, đặt các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trước những thử thách to lớn. Tại Việt Nam, sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ quá độ nhưng đã mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng kéo dài do chủ quan duy ý chí, nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Đứng trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, tiếp tục được bổ sung và cụ thể hóa tại các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII. Để quá trình đổi mới đi đúng hướng, việc xác lập một nền tảng phương pháp luận khoa học dẫn đường là yêu cầu cấp thiết.

Về lịch sử nghiên cứu, tác giả điểm qua các công trình tiêu biểu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiếp cận chủ đề này:

  • "Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội" của Đỗ Mười (NXB Sự thật, Hà Nội, 1992).
  • "Triết học với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa" của Nguyễn Thế Nghĩa (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997).
  • "Phương pháp luận về vấn đề văn hóa và phát triển" của GS. Trần Văn Giàu (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993).
  • "Phương pháp nhận thức biện chứng" của A. P. Sep-tu-lin (NXB Sự thật, Hà Nội, 1989).

Tác giả nhận định rằng phần lớn các công trình đi trước chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề vai trò của phương pháp biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam một cách trọn vẹn và có hệ thống.

Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận của phép biện chứng duy vật và sự hình thành phương pháp biện chứng duy vật cùng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản.
  2. Làm rõ vai trò định hướng của phương pháp biện chứng duy vật trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cách mạng nói chung, đặc biệt là sự chỉ đạo của nó đối với từng lĩnh vực cụ thể của công cuộc đổi mới tại Việt Nam (kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ).
  3. Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp và củng cố tri thức lý luận phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy chuyên ngành Giáo dục Chính trị của tác giả sau này.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp biện chứng duy vật với tư cách là hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận triết học. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào sự nghiệp đổi mới toàn diện tại Việt Nam từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến giai đoạn Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp là phép biện chứng duy vật, lý luận nhận thức và học thuyết về thực tiễn. Nguồn lý luận kinh điển được khai thác trực tiếp từ các tác phẩm trong Toàn tập của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V. I. Lênin, cùng hệ thống văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VI, Đại hội VII và Đại hội VIII. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các kết quả nghiên cứu chuyên sâu về triết học và phương pháp luận của các tác giả Đỗ Mười, Trần Văn Giàu, Nguyễn Thế Nghĩa, A. P. Sep-tu-lin, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Duy Thông.

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu học thuật gồm:

  • Phương pháp biện chứng duy vật: Được sử dụng làm phương pháp luận chủ đạo xuyên suốt quá trình phân tích và luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn.
  • Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Tái hiện quá trình hình thành và phát triển của các hình thức phép biện chứng trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đồng thời phản ánh đúng tiến trình vận động khách quan của công cuộc đổi mới tại Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận: Mổ xẻ các khái niệm, quy luật, phạm trù, nguyên tắc phương pháp luận và liên kết chúng thành hệ thống chỉ đạo thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá sự khác biệt bản chất giữa phép biện chứng duy vật với phép biện chứng duy tâm và tư duy siêu hình; so sánh mô hình kinh tế - xã hội thời kỳ bao cấp với mô hình đổi mới nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phương pháp biện chứng duy vật

Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc lịch sử, cấu trúc nội dung và các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật.

1. Sơ lược về lịch sử hình thành phép biện chứng: Tác giả hệ thống hóa ba hình thức cơ bản của phép biện chứng trong lịch sử triết học:

  • Phép biện chứng tự phát thời cổ đại: Tiêu biểu là tư tưởng của Hêraclít (coi thế giới là ngọn lửa vĩnh viễn bùng cháy và tàn lụi theo quy luật, vạn vật như dòng chảy) và Arixtốt (xây dựng các quy luật logic, nghiên cứu các dạng vận động tự nhiên và mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung). Hạn chế của giai đoạn này là mang tính trực quan cảm tính và ngây thơ.
  • Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức: Tiêu biểu là Hêghen, người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống các quy luật của phép biện chứng. Tuy nhiên, do đứng trên lập trường duy tâm khách quan ("ý niệm tuyệt đối"), triết học Hêghen nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc giữa hệ thống triết học bảo thủ khép kín và phương pháp biện chứng cách mạng.
  • Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập, V. I. Lênin phát triển: Khắc phục triệt để tính chất duy tâm của Hêghen và tính siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ, tạo ra sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.

2. Nội dung của phép biện chứng duy vật: Bao gồm hệ thống hai nguyên lý, ba quy luật cơ bản và các cặp phạm trù:

  • Hai nguyên lý cơ bản: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến (khẳng định tính khách quan, phổ biến và đa dạng của các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng) và Nguyên lý về sự phát triển (khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của thế giới, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao thông qua các bước nhảy vọt).
  • Ba quy luật cơ bản: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hạt nhân của phép biện chứng, vạch ra nguồn gốc và động lực bên trong của sự phát triển); Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại (chỉ ra cách thức vận động và phát triển); Quy luật phủ định của phủ định (chỉ ra khuynh hướng phát triển tiến lên theo đường xoáy ốc).
  • Các cặp phạm trù cơ bản: Đóng vai trò là các quy luật không cơ bản phản ánh các mối liên hệ bản chất của thế giới hiện thực.

3. Phân biệt phương pháp, phương pháp luận và các nguyên tắc cơ bản: Tác giả làm rõ ranh giới giữa phương pháp (hệ thống nguyên tắc điều chỉnh hoạt động) và phương pháp luận (lý luận về phương pháp), đồng thời phân tầng hệ thống phương pháp:

  • Phương pháp riêng (áp dụng cho từng ngành khoa học cụ thể).
  • Phương pháp chung (áp dụng cho nhóm ngành có điểm chung).
  • Phương pháp phổ biến / chung nhất (phương pháp biện chứng duy vật áp dụng cho toàn bộ nhận thức và hoạt động thực tiễn).

Từ nội dung lý luận, tác giả hệ thống hóa 7 nguyên tắc phương pháp luận căn bản:

Tên nguyên tắc phương pháp luận Nội dung và yêu cầu chỉ đạo cốt lõi Biểu hiện tư duy cần phê phán, khắc phục
Nguyên tắc khách quan Xem xét sự vật xuất phát từ bản thân sự vật, phản ánh trung thực quy luật vốn có. Bệnh chủ quan, duy ý chí.
Nguyên tắc toàn diện Bao quát tất cả các mặt, các mối liên hệ; xác định mắt khâu cơ bản, bản chất. Quan điểm phiến diện, một chiều, cào bằng.
Nguyên tắc phát triển Xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi; phát hiện mâu thuẫn và ủng hộ cái mới tiến bộ. Bệnh bảo thủ, trì trệ, giáo điều.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể Gắn nhận thức với điều kiện không gian, thời gian và hoàn cảnh tồn tại cụ thể. Bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc.
Nguyên tắc phân đôi cái thống nhất Phân tách chỉnh thể thống nhất thành các mặt đối lập biện chứng để nhận thức nguồn gốc vận động. Quan điểm siêu hình đồng nhất tuyệt đối hoặc đối lập trừu tượng.
Nguyên tắc phủ định biện chứng Kế thừa có phê phán các giá trị hợp lý của cái cũ để phát triển cái mới. Phủ định sạch trơn hoặc kế thừa nguyên xi.
Nguyên tắc thực tiễn Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, sâu sát quần chúng, lấy hiệu quả thực tiễn làm tiêu chuẩn chân lý. Bệnh kinh viện, xa rời đời sống thực tế.

Chương 2: Phương pháp biện chứng duy vật với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Chương 2 luận giải vai trò định hướng của phương pháp biện chứng duy vật đối với hoạt động thực tiễn và tiến trình đổi mới tại Việt Nam trên từng lĩnh vực cụ thể.

1. Vai trò của phương pháp biện chứng duy vật trong hoạt động thực tiễn: Tác giả phê phán quan niệm sai lầm của triết học trước Mác (Phoi-ơ-bắc coi thường thực tiễn, Hêghen trừu tượng hóa thành "ý niệm thực tiễn") và khẳng định thực tiễn là hoạt động vật chất có tính năng động, sáng tạo, là phương thức tồn tại cơ bản của xã hội loài người. Hoạt động thực tiễn gồm ba dạng cơ bản: sản xuất vật chất (cơ bản nhất, quyết định), hoạt động biến đổi xã hội (hình thức cao nhất), và thực nghiệm khoa học (cầu nối biến phát minh thành giải pháp kỹ thuật, công nghệ). Phương pháp biện chứng duy vật cung cấp cơ sở phương pháp luận để cải tạo xã hội thông qua các bước đi quá độ, phê phán mô hình tập trung quan liêu bao cấp vốn mang nặng tính nóng vội, đốt cháy giai đoạn.

2. Đổi mới là xu hướng tất yếu của sự phát triển xã hội: Phân tích sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cùng thực trạng khủng hoảng tại Việt Nam, tác giả chỉ ra rằng đổi mới là yêu cầu khách quan nhằm tự phủ định những khuyết điểm, sai lầm để đạt tới trình độ trưởng thành cao hơn của chủ nghĩa xã hội.

3. Vận dụng phương pháp biện chứng duy vật trong từng lĩnh vực đổi mới:

Lĩnh vực đổi mới Nội dung vận dụng nguyên lý và quy luật biện chứng duy vật Kết quả và định hướng chính sách cụ thể
Kinh tế Vận dụng nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triểnnguyên tắc phân đôi cái thống nhất. Đặt nền kinh tế Việt Nam trong mối liên hệ với kinh tế thế giới; giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu và lợi ích. Chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; thừa nhận sở hữu cá nhân và kinh tế thị trường định hướng XHCN; xác định lợi ích cá nhân của người lao động là động lực trực tiếp; thực hiện công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, ưu tiên CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn.
Chính trị Vận dụng quy luật lượng - chấtkết hợp các mặt đối lập thông qua khâu trung gian. Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước làm phương tiện quá độ. Đổi mới hệ thống chính trị gắn liền với quá trình dân chủ hóa xã hội; phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò của Mặt trận Tổ quốc; giữ vững ổn định chính trị theo định hướng XHCN; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, buôn lậu.
Văn hóa - tư tưởng Vận dụng nguyên tắc phát triểnphủ định biện chứng. Vạch ra nhân tố mới trong lòng cái cũ, kết hợp tiếp thu tinh hoa nhân loại với bảo tồn bản sắc. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (dân tộc, hiện đại, nhân văn); kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chống tư tưởng tư sản, tiểu tư sản; giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và sự suy thoái đạo đức, lối sống.
Giáo dục - đào tạo Vận dụng nguyên tắc toàn diện. Đặt giáo dục trong mối quan hệ gắn bó với kinh tế, chính trị và khoa học - công nghệ để phát huy nhân tố con người. Xác định giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là "quốc sách hàng đầu"; quán triệt tư tưởng "vì lợi ích trăm năm trồng người"; cải tổ toàn diện hệ thống giáo dục từ mầm non đến sau đại học; đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và công tác quản lý.
Khoa học - công nghệ Khắc phục mối quan hệ lỏng lẻo giữa triết học và khoa học tự nhiên trước thời kỳ đổi mới; sử dụng phương pháp biện chứng để tổng kết thực tiễn khoa học. Xây dựng năng lực nội sinh của khoa học - công nghệ quốc gia; chủ động tiếp thu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật hiện đại của thế giới; dùng lý luận mới bổ sung vào kho tàng phép biện chứng.

4. Biện chứng của sự phát triển và bốn nguy cơ trong quá trình đổi mới: Tác giả phân tích công cuộc đổi mới là một quá trình quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều mâu thuẫn khách quan:

  • Mâu thuẫn giữa nhu cầu tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội với trình độ kinh tế - xã hội thấp kém.
  • Mâu thuẫn giữa cái mới đang hình thành với cái cũ chưa mất đi hoàn toàn.
  • Mâu thuẫn giữa đòi hỏi thực tiễn phát triển nhanh chóng với tình trạng thiếu hụt "giá đỡ" về mặt lý luận.

Đồng thời, quá trình đổi mới phải đối mặt trực tiếp với bốn nguy cơ lớn: (1) Tụt hậu về kinh tế; (2) Chệch hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Diễn biến hòa bình; (4) Tệ nạn tham nhũng. Để vượt qua các nguy cơ này, việc sử dụng sức mạnh trí tuệ và hàm lượng chất xám đóng vai trò quyết định, phù hợp với luận điểm của GS. Trần Văn Giàu về vai trò của chất xám trong phát triển quốc gia.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ tiến trình phát triển của phép biện chứng qua ba giai đoạn lịch sử và khẳng định tính khoa học, cách mạng vượt trội của phép biện chứng duy vật mác-xít.
  • Phân tích và hệ thống hóa 7 nguyên tắc phương pháp luận biện chứng căn bản, chỉ rõ các lỗi tư duy sai lầm tương ứng cần phòng tránh trong nhận thức và thực tiễn.
  • Chứng minh tính quy luật tất yếu của công cuộc đổi mới tại Việt Nam bắt đầu từ Đại hội VI (12/1986), giải thích rõ sự chuyển dịch từ mô hình quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá vai trò chỉ đạo của phương pháp luận triết học trong việc định hình các quyết sách lớn tại Đại hội VI, VII, VIII trên năm trụ cột: kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ.
  • Nhận diện hệ thống mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ và phân tích bốn nguy cơ đe dọa sự nghiệp đổi mới tại Việt Nam.

Đóng góp của đề tài do tác giả tự nêu:

  • Là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối trọn vẹn về giá trị phương pháp luận của phép biện chứng duy vật đối với sự nghiệp đổi mới tại Việt Nam.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo, củng cố tri thức lý luận cho công tác giảng dạy chuyên ngành Giáo dục Chính trị và Triết học Mác - Lênin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Tài liệu tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lý luận thuần túy và tổng kết văn kiện Đảng từ năm 1986 đến giai đoạn Đại hội VIII (1996), chưa có điều kiện khảo sát số liệu thống kê kinh tế - xã hội định lượng chi tiết ở từng địa phương hoặc ngành nghề cụ thể.
  • Một số nội dung vận dụng triết học vào chính trị và văn hóa mang tính khái quát định hướng nguyên tắc, chưa đi sâu vào từng chính sách hành chính công cụ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra:

  • Tiếp tục vận dụng phương pháp biện chứng duy vật để tổng kết thực tiễn đổi mới ở các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
  • Nghiên cứu sâu cơ chế giải quyết từng nguy cơ cụ thể, nhất là phương pháp luận biện chứng trong công tác phòng chống tham nhũng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Lý luận Chính trị dùng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận và kỹ năng phân tích thực tiễn.
  • Giảng viên giảng dạy các bộ môn Triết học Mác - Lênin và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng bài giảng gắn lý luận với thực tiễn đổi mới.
  • Người nghiên cứu quan tâm đến sự chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 1986 - 1996 dưới góc độ phương pháp luận triết học.

Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: hệ thống hóa 7 nguyên tắc phương pháp luận biện chứng (Chương 1) và phân tích vai trò của triết học trong từng lĩnh vực đổi mới kinh tế, chính trị, giáo dục (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân chia lịch sử phát triển của phép biện chứng thành những hình thức cơ bản nào?
Khóa luận phân chia lịch sử phép biện chứng thành ba hình thức cơ bản: (1) Phép biện chứng tự phát trong triết học cổ đại (tiêu biểu là Hêraclít và Arixtốt); (2) Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức (tiêu biểu là Hêghen); (3) Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập, V. I. Lênin tiếp tục phát triển.

2. Khóa luận hệ thống hóa bao nhiêu nguyên tắc phương pháp luận cơ bản từ phép biện chứng duy vật?
Tác giả hệ thống hóa 7 nguyên tắc phương pháp luận căn bản: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc phân đôi cái thống nhất và nhận thức các mặt đối lập, nguyên tắc phủ định biện chứng, và nguyên tắc thực tiễn.

3. Theo phân tích của tác giả, phương pháp biện chứng duy vật đã chỉ đạo việc đổi mới tư duy kinh tế ở Việt Nam như thế nào?
Phương pháp biện chứng duy vật giúp Đảng và Nhà nước nhìn nhận nền kinh tế trong mối liên hệ phổ biến toàn cầu, khắc phục mô hình tự cung tự cấp khép kín và bệnh nóng vội phát triển công nghiệp nặng; từ đó chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thừa nhận kinh tế thị trường và xác định lợi ích cá nhân của người lao động là động lực trực tiếp của sản xuất.

4. Bốn nguy cơ đe dọa sự nghiệp đổi mới tại Việt Nam được chỉ ra trong khóa luận là gì?
Bốn nguy cơ được nêu trong khóa luận bao gồm: (1) Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; (2) Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Nguy cơ từ âm mưu "diễn biến hòa bình"; (4) Tệ nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước.

5. Hoạt động thực tiễn được khóa luận phân loại thành những dạng cơ bản nào?
Khóa luận chia hoạt động thực tiễn thành ba dạng cơ bản: (1) Hoạt động sản xuất vật chất (dạng cơ bản nhất, quyết định); (2) Hoạt động biến đổi xã hội (dạng cao nhất, gồm đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hòa bình); (3) Thực nghiệm khoa học (dạng đặc biệt thực hiện trong điều kiện nhân tạo để nhận thức và biến đổi giới tự nhiên, xã hội).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Bắc đã hệ thống hóa một cách mạch lạc cơ sở lý thuyết của phép biện chứng duy vật và hệ thống nguyên tắc phương pháp luận mác-xít. Công trình luận giải sâu sắc vai trò định hướng của các nguyên lý, quy luật triết học trong việc khắc phục khủng hoảng của cơ chế quan liêu bao cấp và chỉ đạo công cuộc đổi mới toàn diện tại Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và khoa học - công nghệ. Đây là tài liệu nghiên cứu có giá trị học thuật và sư phạm rõ rệt, phục vụ thiết thực cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Giáo dục Chính trị.