Chương I :Trái đất va bản dé ( 5 tiết ) Chương II : Bản đồ (7 tiết) Chương II :Sự chuyển động của trái đất (4 tiết) Chương II :Thành phẩn tự nhiên Chương III: Cấu tao của trái đất và địa của môi trường ( 13 tiết) hình ( 9 tiết) - +Địa hình , địa chất Chương IV : Lớp nước trên trái đất (10 + +Khí hau, thủy văn tiếD ~ +Thực vật, động vật Chương V : Lớp không khí trên trái đất (14 tiết) Chương VI: Lớp đất trồng (3 tiết) Chương VII : Lớp vỏ địa lý và các cảnh quan trên trái đất (4 tiết ) Chương VIII :Người trên trái đất và các hoạt động kinh tế (10 tiết) Số bài thực hành : 6 Số bài thực hành : 5 Chương trình địa lý 6 TD day trong 33 tiết (1 tiết/1 tuần) giảm một nửa so với chương trình hiện hành (CTHH). Về số chương có 3 chương còn CTHH có 8 chương. Theo tài liệu bổi dưỡng giáo viên (17/2000) đành cho SGK thí điểm thì việc cắt giảm chương trình là để phù hợp với số tiết. Song việc cất giảm đó không có nghĩa là cất giảm một cách "cơ học” các kiến thức so với số tiết.
Chương trình mới có những phin cắt giảm nhưng lại có những kiến thức mới được đưa vào phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, với sự phát triển của khoa học địa lý, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta thử xem chương trình mới đã thực sự giảm tải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi? Giả sử chương trình được cất giảm một cách “cơ học” so với số tiết nghĩa là giảm từ 66 tiết xuống 33 tiết và cắt bỏ một nửa CTHH. Ta thấy sau khi SVTH : Nguyễn Thị Thủy Trang 9 'GVHD : Nguyén Thi Kim Lién Khóa luận tốt nghiệp cắt giảm thì trong một tiết học học sinh vẫn phải tiếp nhận lượng kiến thức mới giống như tiết học trước khi cất giảm và mức độ kiến thức này chưa được diéu chỉnh. Vậy như thế nào mới được xem là phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi trong quá trình giảm tải? Theo tôi, ta phải dựa vào thời gian học sinh tiếp nhận lượng kiến thức mới và mức độ kiến thức đó với khả năng nhận thức của lứa tuổi.
Nghĩa là mỗi lứa tuổi có một khả năng tiếp nhận một lượng kiến thức nào đó trong một thời gian nhất định và mức độ kiến thức đó không quá tầm nhận thức của các em. Thiết kế một chương trình với các tiết học mà thời lượng tiếp nhận của học sinh bị rút ngắn hơn , hoặc mức độ kiến thức không phù hợp với lứa tuổi hoc sinh thì xem như là chương trình quá tải. Muốn giảm tải chương trình thì phải điều chỉnh lại lượng thời gian mà học sinh tiếp nhận kiến thức mới và mức độ kiến thức so với lứa tuổi, Quay về với CTDL6 TD ta thấy chương trình mới có giảm một số kiến thức và điều chỉnh mức độ kiến thức cho phù hợp với HS lớp 6. SGK được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để tổ chức cho học sinh được hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Với cách biên sọan này thì lượng thời gian tiếp nhận của học sinh có phần được cải thiện. Tuy nhiên, trong chương trình có những bài quá nhiều kiến thức cho một tiết học. Qua thực tế ở trường phổ thông cho thấy có một số bài dạy không đủ trong một tiết. Nếu dạy đủ trong một tiết vừa đảm bảo nội dung vừa phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh thì chỉ có thể thực hiện ở những lớp khá giỏi.
Môi số thay đổi của CTĐL6TĐ * Một số nội dung thay vì học ở lớp 6 đã được chuyển lên chương trình lớp 7 như: các đới khí hậu; lớp đất trồng; lớp vỏ địa lý và các cảnh quan trên Trái đất người trên Trái đất và các hoạt động kinh tế. * Một số nội dung bỏ hẳn như : + Sự hình thành núi ; sự nâng lên và hạ xuống của lớp vỏ Trái đất. + Các loại đá trong vỏ Trái đất. +Địa hình của đáy đại đương, vòng quay của nước trên Trái đất.
+ Nước ngầm * Một số nội dung được học thành bài trong CTHH vẫn được giữ lại nhưng giảm mức độ yêu cẩu về kiến thức như: nhiệt độ , khí áp, các loại gió trên Trái đất, độ ẩm không khí. * Những nội dung mới được đưa vào chương trình | svrn : Nguyễn Thị Thủy Trong 10 GVHD : Nguyễn Thị Kim Liên Khóa luận tốt nghiệp + Trái đất trong vũ trụ + Sự phân bố lục địa và đại dương trên trái đất + Thuyết trôi lục địa và thuyết kiến tạo mảng + Địa hình caxtơ + Thay mới nội dung các bài thực hành Bên cạnh những nội dung học ta còn thấy SGK mới đã thay bảng tra các khái niệm chính và phụ của SGKHH bằng phan thuật ngữ địa lý. Các thuật ngữ nay được giải thích một cách ngắn gọn , đơn giản cho phù hợp với nhận thức của lớp 6 SGKTD cắt bỏ phn đọc thêm. Phin đọc thêm chính là phần giúp hoc sinh mở rộng kiến thức với thực tế , hình thành thái độ tình cảm, niểm tin với những điều đã học.
Vì thế cần duy trì phẩn đọc thêm. Không nhất thiết phải có nhiều nhiều bai đọc thêm. Chỉ cẩn từ 3 đến 5 bài, mỗi bài dài nhất cũng khoảng nửa trang. Lựa chọn những nội dung sát thực với thực tế như thời tiết, khí hậu, núi lửa sông.SGK TP cải thiên tình hình hoc lý thuyết nhiềuhơn thưc hàn! Số tiết thực hành của CTTD là 6/25 , CTHH là 5/59.
Như vậy số tiết thực hành của CTTD tăng gấp đôi so với CTHH. Học sinh có điểu kiện thực hành nhiều hơn , có điểu kiện vận dụng những kiến thức lý thuyết vào bài thực hành thông qua những câu hỏi cụ thể với su giúp đỡ của giáo viên. Trong 6 tiết thực hành thì có 3 tiết thuộc chương bản đổ vì quan điểm của chương trình mới Kí năng bản đổ là Kí năng quan trọng của lớp 6 để tiếp tục lên các lớp sau. Ở nỗi bài trong sách đều có phần câu hỏi, bài tập.
Đây là điểm kế thừa của sách hiện hành và có các điểm mới là có các câu hỏi vận dụng kiến thức để giải thích. Nếu các em trả lời được các câu hỏi này coi như các em biết dùng những điểu mình học để lý giải một số hiện tượng địa lý xảy ra xung quanh nơi các em sống. Ví dụ: Cuối bài khí hậu có câu hỏi số 3: Vì sao vào mùa hạ mọi người đi nghỉ mát ở các vùng núi cao hoặc ở vùng bờ biển ? Nếu học sinh tiếp thu bài tốt déu trả lời được câu hỏi nầy. Tuy nhiên nếu câu hỏi này đổi thành câu hỏi như sau : Vào mùa hạ em sẽ đến vùng nào để nghỉ mất ? Vì sao ? Với câu hỏi này học sinh không chỉ lý giải được vì sao lại đi nghỉ mát ở vùng núi cao và bờ biển vào mùa hạ mà còn thể hiện học sinh đã biết vận dụng.
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Trang Il | So sánh giữa SGKHH và SGKTD ta dé đàng nhận thấy quan điểm biên soạn của SGK thí điểm. Đó là biên soạn theo hướng tạo diéu kiện để tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học. Vì thế bên cạnh việc cung cấp kiến thức SGK còn thể hiện quá trình dẫn dat học sinh tìm đến kiến thức bằng các câu hỏi, khai thác các hình trong bài chứ hình không chỉ nhằm mục đích minh họa. Giáo viên tổ chức tiết học và hướng dẫn học sinh hướng suy nghĩ để tìm tòi, giải đáp các câu hỏi từ đó rút ra những khái niệm, nguyên nhân của một số hiện tượng, các mối quan hệ địa lý.
Sau một vòng điểm qua những yêu cầu có ở SGK mới ta thấy SGK thí điểm đã đáp ứng những yêu cẩu trên. Tuy rằng mức độ đáp ứng không như ta mong đợi nhưng có thể nói là điểu đáng mừng, đáng khích lệ. Nếu nhận xét về SGKTD mà chỉ tập trung vào khuyết điểm , những chỗ còn sai sót mà không nêu lên những mặt đạt được thì chúng ta không thể thấy được những khó khăn của công việc biên soạn sách theo quan điểm mới. ILNHAN XÉT VỀ NÔI DUNG $GKTD 1 Đính chính của SGKTĐ SGK mới được thí điểm từ tháng 9 năm 2000.
Ngày 2 và 3 tháng 11 năm 2001 hội déng bộ môn địa lý họp và đưa ra những sai sót cần đính chính ngay. Dưới đây là bang đính chính những sai sót của SGKTĐ GVHD : Nguyễn Thị Kim Liên Khóa luận tốt nghiệ Chuyển chữ "thung lũng "lên Capa Bu F*F cao hơn chữ “sông” Bỏ hai hình này jo] De |i các Thiếu đơn vị “km” |.trên các vùng đất 52¡khí | đai ở các vĩđộ. v ng 7Ì | Ví dụ ở hoang mạc rất it mưa, ở rừng rim. Bỏ ví dụ này nhiệt đới rất nóng và Bỏ 4 cột số liệu vé nhiệt độ, lượng mưa trung bình năm cao l nhất, thấp nhất ¬w_—vo ula So sánh nhiệt độ .sẽ | So sánh nhiệt độ và lượng mưa như thế nào? trung bình năm ở Hà Nội, Huế, và TpHCM Khí hậu là sự lặp lại | Khí hậu là sự lặp lại có quy của các kiểu thời | luật của các kiểu thời tiết E.
i : cũng | Lượng mưa phân bố không đều giảm dần từ xích đạo | từ xích đạo về cực. <oe a® 5°, 18°, 8°, 0° 25°C, 18°C, 8°C, 0°C an 760mm ng có số liệu khí | Thêm 420 mm ở cột khí trên =w => i ấp suất trền cao o aa cao Lấp đã Nơi tiếp xúc của dòng | Nơi tiếp xúc của các dòng biển vv a = i biển với nước biển | nóng và dòng biển lạnh. Vì vậy cây cối không | Vì vậy thực vật phát triển khó thể mọc được. SVTH : Nguyén Thj Tha ; Trang 13 GVHD : Nguyễn Thị Kim Liên | Khóa luận tốt nghiệp * Bài 2; (trang 9) Hình 7 trang 9: Sự chuyển động của trái đất trên quỹ đạo quanh mặt trời.
Màu sáng tối chưa hợp lý ở vị trí ngày 23/9 và mũi tên tượng trưng cho ánh sáng Mật trời. Với hình này phải tô đen hết mặt ngoài và mũi tên biểu diễn bằng nét đứt quãng. * Bài 4: (trang 12) Hình 10 trang 14: Ti lệ diện tích lục địa và đại dương. Ti lệ giữa lục địa và đại đương ở bán cầu Nam chưa chính xác.