Khóa luận tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em tại khoa nhi bệnh viện bạch mai

Khám phá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em tại Bệnh viện Bạch Mai, cung cấp thông tin hữu ích cho cha mẹ.

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

54
12
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Định nghĩa nhiễm khuẩn tiết niệu

1.2. Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài

1.2.1. Nghiên cứu nước ngoài

1.2.2. Nghiên cứu trong nước

1.3. Cơ chế bệnh sinh

1.4. Triệu chứng lâm sàng

1.5. Cận lâm sàng

1.6. Xét nghiệm nước tiểu

1.7. Chẩn đoán hình ảnh

1.8. Chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

2.7. Công cụ thu thập số liệu

2.8. Các biến số nghiên cứu

2.9. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.10. Xử lý số liệu

2.11. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm của trẻ NKTN

3.2. Tỷ lệ NKTN theo giới

3.3. Tỷ lệ NKTN theo nhóm tuổi

3.4. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới

3.5. Tỷ lệ NKTN theo địa dư

3.6. Đặc điểm lâm sàng trẻ nhiễm khuẩn tiết niệu

3.7. Sốt ở trẻ nhiễm khuẩn tiết niệu

3.8. Các triệu chứng nhiễm khuẩn tiết niệu

3.9. Đặc điểm cận lâm sàng nhiễm khuẩn tiết niệu

3.10. Xét nghiệm nước tiểu

3.11. Nuôi cấy nước tiểu

3.12. Chẩn đoán hình ảnh

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của trẻ nhiễm khuẩn tiết niệu

4.2. Đặc điểm lâm sàng trẻ nhiễm khuẩn tiết niệu

4.3. Đặc điểm cận lâm sàng trẻ nhiễm khuẩn tiết niệu

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp này tập trung vào việc nghiên cứu đặc điểm lâm sàngcận lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệutrẻ em tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả chi tiết các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Khóa luận này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Văn Đếm và được thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai, một trong những bệnh viện đa khoa hàng đầu tại Việt Nam.

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính: mô tả đặc điểm lâm sàngcận lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệutrẻ em tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai. Các đặc điểm lâm sàng bao gồm các triệu chứng như sốt, rối loạn tiểu tiện, và các dấu hiệu khác. Các đặc điểm cận lâm sàng bao gồm các xét nghiệm nước tiểu, nuôi cấy vi khuẩn, và chẩn đoán hình ảnh. Nghiên cứu này cũng nhằm đánh giá tỷ lệ mắc bệnh theo giới tính, nhóm tuổi, và địa dư.

II. Đặc điểm lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệutrẻ em được mô tả chi tiết trong nghiên cứu này. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm sốt, rối loạn tiểu tiện (đái buốt, đái rắt), và các dấu hiệu nhiễm khuẩn khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng sốt là triệu chứng phổ biến nhất, đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi. Các triệu chứng khác như đau bụng, đau vùng thắt lưng, và nước tiểu đục cũng được ghi nhận. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự khác biệt về triệu chứng lâm sàng giữa các nhóm tuổi, với trẻ nhỏ thường có triệu chứng không đặc hiệu hơn so với trẻ lớn.

2.1 Triệu chứng sốt

Sốt là triệu chứng phổ biến nhất ở trẻ bị nhiễm khuẩn tiết niệu, đặc biệt là ở trẻ dưới 2 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng 95,7% trẻ bị nhiễm khuẩn tiết niệu có triệu chứng sốt. Sốt cao kéo dài không rõ nguyên nhân là dấu hiệu quan trọng để nghi ngờ và chẩn đoán bệnh. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời để tránh các biến chứng nghiêm trọng như viêm thận bể thận cấp.

III. Cận lâm sàng

Cận lâm sàng là một phần quan trọng trong chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệutrẻ em. Nghiên cứu này tập trung vào các xét nghiệm nước tiểu, bao gồm que test nhanh Nitrite và Esterase bạch cầu, cũng như nuôi cấy nước tiểu để xác định vi khuẩn gây bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy Escherichia coli là vi khuẩn gây bệnh chủ yếu, chiếm 80-90% các trường hợp. Ngoài ra, các xét nghiệm hình ảnh như siêu âm và chụp xạ hình thận cũng được sử dụng để đánh giá các bất thường về giải phẫu và chức năng của hệ tiết niệu.

3.1 Xét nghiệm nước tiểu

Xét nghiệm nước tiểu là công cụ chính trong chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu. Nghiên cứu này sử dụng que test nhanh Nitrite và Esterase bạch cầu để sàng lọc ban đầu. Kết quả Nitrite dương tính có độ chính xác cao trong việc xác định bệnh, trong khi Esterase bạch cầu giúp đánh giá mức độ viêm. Nuôi cấy nước tiểu là tiêu chuẩn vàng để xác định vi khuẩn gây bệnh, với Escherichia coli là tác nhân chính. Các phương pháp lấy mẫu nước tiểu như chọc hút bàng quang trên xương mu được ưu tiên để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bẩn.

IV. Điều trị và phác đồ

Nghiên cứu này cũng đề cập đến các phác đồ điều trị nhiễm khuẩn tiết niệutrẻ em. Điều trị bao gồm sử dụng kháng sinh phù hợp dựa trên kết quả nuôi cấy vi khuẩn và đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều trị sớm để ngăn ngừa các biến chứng như sẹo thận và suy thận. Các kháng sinh thường được sử dụng bao gồm Amoxicillin, Cefixime, và Ciprofloxacin. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp phòng ngừa như vệ sinh cá nhân và điều trị các yếu tố nguy cơ như táo bón và hẹp bao quy đầu.

4.1 Phác đồ điều trị

Phác đồ điều trị được đề xuất trong nghiên cứu dựa trên kết quả nuôi cấy vi khuẩn và đánh giá lâm sàng. Đối với trẻ bị nhiễm khuẩn tiết niệu không biến chứng, kháng sinh đường uống như Amoxicillin hoặc Cefixime được ưu tiên. Đối với các trường hợp nặng hoặc có biến chứng, kháng sinh đường tiêm như Ceftriaxone được sử dụng. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và đánh giá lại sau điều trị để đảm bảo hiệu quả và ngăn ngừa tái phát.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa nhiễm khuẩn tiết niệu Nhiễm khuẩn tiết niệu là một thuật ngữ để chỉ các tình trạng viêm nhiễm ở hệ thống tiết niệu, đặc trưng bởi tăng số lượng vi khuẩn và bạch cầu niệu một cách bất thường nhưng không bao gồm các bệnh viêm đường tiết niệu do các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục như lậu, giang mai. Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài 1. Nghiên cứu nước ngoài Năm 1995, nghiên cứu Stanley Hellerstein cho thấy tỉ lệ mắc NKTN xảy ra lần đàu tiên cao nhất ở nhóm tuổi dưới 1 tuổi ở cả trẻ trai và trẻ gái, sau lứa tuổi này, tỷ lệ NKTN giảm xuống một cách rõ rệt.

Phần lớn NKTN cấp tính ở trẻ dưới 1 tuổi là viêm thận bể thận cấp. Năm 2017, nghiên cứu tại Ấn Độ của Rajiv Sinha và cộng sự cho thấy 63% bệnh nhân có bất thường trên chẩn đoán hình ảnh; bất thường hay gặp nhất là thận ứ nước 33,5%, luồng trào ngược bàng quang niệu quản từ độ III đến V gặp 30,7% trường hợp, sẹo thận gặp ở 43% trường hợp. Năm 2019, nghiên cứu của Sitthisarunkul N. cho thấy ở trẻ nhiễm khuẩn tiết niệu có: 13,2% có ứ nước thận trên siêu âm; 20,9% có VUR; 9,5% có sẹo thận, 6% có loạn sản thận trên chụp xạ hình thận.

Nghiên cứu trong nước Năm 1976, Lê Nam Trà và cộng sự nghiên cứu về tình hình nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em tại Viện bảo vệ sức khoẻ trẻ em Hà Nội trong giai đoạn từ năm 1974 – 1977, cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu ở bệnh nhi điều trị nội trú là 1,06% và chiếm 22,4% tổng số bệnh nhân bị bệnh thận. Năm 1990, Trần Đình Long và cộng sự nghiên cứu về tình hình bệnh thận tiết niệu trong 10 năm của trẻ em điều trị tại Viện bảo vệ sức khoẻ trẻ em cho thấy nhiễm khuẩn tiết niệu đứng thứ ba trong số trẻ bị bệnh thận, với tỉ lệ tử cong là 5,7%. 2 Năm 2010, Đặng Văn Chức nghiên cứu nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em ở cộng đồng tại Hải Phòng, kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu chung là 2,8%, tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ gái (3,3%) cao hơn so với trẻ trai (2,2%) với triệu chứng chủ yếu là rối loạn tiểu tiện như đái buốt đái rắt, vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là Escherichia Coli (46,1%), Proteus (21,9%) và Klebsiella (17,2%). Năm 2015, Lê Quang Phương và cộng sự nghiên cứu thực trạng nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi có sốt tại Bệnh viện Nhi Trung ương, cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu là 11,6%, gặp trẻ gái (67,5%) cao hơn trẻ trai (32,5%) với triệu chứng chủ yếu là sốt và rối loạn tiêu hoá.

Vi khuẩn chủ yếu gây bệnh là Escherichia Coli (63,2%), Proteus (10,5%) và Klebsiella (15,8%) và Enterobacter (10,5%). Năm 2019, Lương Thị Phượng nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệu trên trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Xanh Pôn cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ gái (65,2%) cao hơm so với trẻ trai (34,8%). Nhóm tuổi có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất là nhóm dưới 2 tuổi (60,9%), triệu chứng thường gặp là sốt (95,7%), rối loạn tiểu tiện và đái đục (41,3%), rối loạn tiêu hoá (21,7%) và triệu chứng hô hấp (19,6%). Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là Escherichia Coli (75%), Klebsiella (8,3%) và Enterobacter (16,7%).

Phân loại Có bốn cách phân loại được sử dụng rộng rãi dựa trên các yếu tố giải phẫu, diễn biến của bệnh, triệu chứng và biến chứng của bệnh. Trên lâm sàng đối với các trường hợp cấp tính, thường sử dụng phân loại theo giải phẫu và mức độ nghiêm trọng của bệnh là quan trọng nhất [5]: - Phân loại dựa vào vị trí giải phẫu chia nhiễm khuẩn tiết niệu làm 2 loại: NKTN trên (viêm thận bể thận cấp) và NKTN dưới (viêm bàng quang). - Phân loại dựa vào diễn biến chia làm 2 loại: NKTN lần đầu và NKTN tái phát. Trong đó, NKTN tái phát được định nghĩa khi có ≥ 2 đợt VTBTC; 1 đợt viêm thận bể thận cấp và ≥ 1 đợt viêm bàng quang hoặc ≥ 3 đợt viêm bàng quang [2].

3 - Phân loại dựa vào triệu chứng bao gồm: Vi khuẩn niệu không triệu chứng và NKTN có triệu chứng. Tỷ lệ VKNKTC được ước tính là dưới 1% ở trẻ sơ sinh đủ tháng, 3% ở trẻ em độ tuổi đi học và 1% ở trẻ lớn hơn [7]. Ở những bệnh nhân có bàng quang thần kinh và trào ngược bàng quang niệu quản, rất khó phân biệt giữa VKNKTC và NKTN có triệu chứng. - Phân loại dựa vào biến chứng: NKTN không biến chứng (tiên phát) và NKTN có biến chứng hay NKTN phức tạp.

Trong đó, NKTN không biến chứng được định nghĩa là tình trạng nhiễm trùng ở bệnh nhân có giải phẫu đường tiết niệu, chức năng thận và hệ thống miễn dịch bình thường. NKTN có biến chứng được định nghĩa là NKTN xảy ra ở trẻ sơ sinh hoặc ở hầu hết các bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng về viêm bể thận, và ở trẻ em được biết đến có tắc nghẽn cơ học, rối loạn chức năng hoặc có các vấn đề khác về đường tiết niệu trên hoặc dưới [8]. Cơ chế bệnh sinh 1. Các cơ chế đề kháng tự nhiên của cơ thể Các yếu tố của vật chủ đóng vai trò bảo vệ khỏi NKTN bao gồm: - Đường tiết niệu không bị cản trở - Dòng nước tiểu một chiều - Hoạt động kháng khuẩn niệu hiệu quả - Bàng quang làm rỗng đều đặn và hoàn toàn - Sức đề kháng vùng đáy chậu bình thường 1.

Các yếu tố nguy cơ Ứ đọng nước tiểu tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Các nguyên nhân gây ứ đọng hay gặp là: - Trào ngược bàng quang niệu quản - Tắc nghẽn đường niệu: sỏi đường tiết niệu, u đường niệu quản… 4 - Bàng quang hoạt động không hiệu quả: bàng quang thần kinh, táo bón, viêm nhiễm. - Xâm nhập vi khuẩn quanh niệu đạo: từ tã, encopresis… - Hẹp bao quy đầu ở trẻ trai Bảng 1.1 Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng tiết niệu ở trẻ em theo Nelson textbook of Pediatric 21th Edition [2] Giới tính nữ Trẻ trai chưa cắt bao quy đầu Trào ngược bàng quang niệu quản Tập luyện đi vệ sinh Rối loạn chức năng bàng quang U xơ tắc nghẽn đường tiểu Các nguồn kích ứng bên ngoài (quần Đặt sonde tiểu áo chật, giun kim,.) Táo bón Bất thường về giải phẫu Bàng quang thần kinh Hoạt động tình dục Có thai 1. Con đường xâm nhập Vi khuẩn xâm nhập vào hệ tiết niệu qua hai đường chính: đường từ dưới lên qua niệu đạo và đường máu.

- NKTN chủ yếu do các loại vi khuẩn từ đại tràng gây ra. Vi khuẩn từ phân hoặc khu trú vùng đáy chậu, đi vào bàng quang qua niệu đạo, bám vào tế bào biểu mô tiết niệu. Đáp ứng đối với vi khuẩn được kích hoạt bởi sự kết dính qua trung gian P-fimbriae với các thụ thể glycosphingolipid trên bề mặt tế bào biểu mô, dẫn đến kích hoạt các Toll-like Receptor (TLR), trong đó thụ thể TLR4 đóng vai trò quan trọng nhất [9]. Sự kích hoạt tín hiệu TLR4 dẫn đến giải phóng phiên mã các yếu tố làm kích hoạt sự di chuyển của bạch cầu đa nhân trung tính và sản xuất cytokine để tiêu diệt vi khuẩn [10].

Trong một số trường hợp, vi khuẩn gây viêm bàng quang đi đến thận gây viêm thận bể thận. Nước tiểu bị nhiễm trùng kích thích phản ứng miễn dịch và phản ứng viêm tại chỗ, gây tổn thương thận và hình thành sẹo thận. Trẻ em ở mọi lứa tuổi bị nhiễm 5 trùng tiểu do sốt có thể bị viêm thận bể thận cấp và sẹo thận sau đó, nhưng nguy cơ cao nhất ở những trẻ dưới 2 tuổi. Với trẻ trai chưa cắt bao quy đầu, căn nguyên gây bênh chủ yếu thường là hệ vi khuẩn nằm ở phần thấp bao quy đầu.

Trong số trẻ sơ sinh trai dưới 3 tháng tuổi bị sốt, 2,4% trẻ trai đã cắt bao quy đầu và 20,1% ở trẻ trai chưa cắt bao quy đầu bị nhiễm khuẩn tiết niệu [11]. - Nhiễm trùng ở thận do lây lan qua đường máu thường rất hiếm, thường gặp trong viêm nội tâm mạc nhiễm trùng hoặc ở trẻ sơ sinh bị nhiễm khuẩn huyết. Căn nguyên gây bệnh Escherichia coli là căn nguyên gây bệnh chính, gây 80 – 90 % NKTN ở trẻ em. Các căn nguyên khác bao gồm: Klebsiella ssp., Enterococcus, và Pseudomonas [12-14].

Ở trẻ em có bất thường đường tiết niệu về giải phẫu, thần kinh, chức năng hoặc suy giảm hệ thống miễn dịch, các vi khuẩn có thể gặp như Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis, Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae,… [13,15]. Vi khuẩn gây NKTN lây lan qua đường máu có thể gặp Staphylococcus aureus, Steptococcus agalactiae, Proteus mirabilis, Pseudomonas aeruginosa và Salmonella không gây thương hàn. Các virus như adenovirus, enterovirus, echovirus và coxsackievirus cũng có thể gây NKTN, nhưng thường chỉ giới hạn ở đường tiết niệu dưới [15]. Adenovirus cũng được biết đến là một nguyên nhân gây viêm bàng quang chảy máu [16].

Nấm (Candida spp., Cryptococcus neoformans, Aspergillus spp.) là những nguyên nhân không phổ biến gây NKTN và chủ yếu xảy ra ở trẻ em có ống thông tiểu, dị tật đường tiết niệu, sử dụng kháng sinh phổ rộng dài ngày hoặc bị suy giảm hệ thống miễn dịch [16]. Triệu chứng lâm sàng Biểu hiện lâm sàng của NKTN rất khác nhau, có thể biểu hiện rất nguy kịch của tình trạng nhiễm khuẩn huyết cho đến hoàn toàn không có biểu hiện lâm sàng và chỉ phát hiện được nhờ xét nghiệm nước tiểu. NKTN chia làm 2 nhóm lớn: 6 1. Viêm thận bể thận cấp Triệu chứng lâm sàng của VTBTC có thể gồm một hoặc nhiều triệu chứng sau: - Triệu chứng nhiễm khuẩn: trẻ lớn biểu hiện rõ, trẻ có thể sốt cao, rét run, bộ mặt nhiễm khuẩn rõ.

Tuy nhiên, sốt có thể là triệu chứng duy nhất, đặc biệt là trẻ lứa tuổi càng nhỏ [17]. Trẻ sơ sinh bị VTBTC hoặc tình trạng nhiễm khuẩn huyết từ NKTN có thể biểu hiện với những triệu chứng không đặc hiệu như bú kém, nôn, kích thích, hôn mê, vàng da và chậm phát triển [18]. - Triệu chứng tiết niệu: rối loạn tiểu tiện (đái buốt, đái rắt, đái rỉ) và rối loạn nước tiểu (đái đục, đái mủ, đái máu, nước tiểu hôi). - Triệu chứng tại chỗ: đau bụng, đau vùng thắt lưng hoặc vùng hông; có thể khám thấy thận to.

VTBTC là nhiễm khuẩn nghiêm trọng phổ biến nhất với trẻ dưới 24 tháng tuổi bị sốt mà không có nguyên nhân rõ ràng. Với trẻ tuổi bú mẹ đôi khi chỉ có triệu chứng sốt hoặc rối loạn tiêu hóa nên dễ bị chẩn đoán nhầm và bỏ sót.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Các giải pháp hoàn thiện hoạt động xuất khẩu tại công ty tnhh mtv long thịnh hưng khóa luận tốt nghiệp" cung cấp một cái nhìn chi tiết về những thách thức và cơ hội trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Nó tập trung vào việc đề xuất các giải pháp thiết thực để tối ưu hóa quy trình, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các chiến lược được đề cập, giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức vận hành và phát triển trong lĩnh vực xuất khẩu.

Nếu bạn muốn khám phá sâu hơn về chủ đề này, hãy xem bài viết Các giải pháp hoàn thiện hoạt động xuất khẩu tại công ty tnhh mtv long thịnh hưng khóa luận tốt nghiệp để có thêm góc nhìn chi tiết và chuyên sâu.