Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế tri thức hiện đại, tài sản vô hình và quyền sở hữu trí tuệ—đặc biệt là quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu—đóng vai trò trọng yếu trong việc định hình giá trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhãn hiệu không chỉ dừng lại ở chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ mà còn trở thành tài sản có thể định giá với giá trị thương mại rất lớn, như các thương hiệu quốc tế Apple (gần 516,6 tỉ USD), Microsoft (340,4 tỉ USD), Amazon (308,9 tỉ USD), Samsung (99,3 tỉ USD) hay các thương hiệu tại Việt Nam như Viettel (9 tỉ USD), Vinamilk (3 tỉ USD).

Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và việc thực thi các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, CPTPP, EVFTA), hoạt động khai thác thương mại quyền sở hữu công nghiệp thông qua chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu) diễn ra ngày càng sôi động. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động này vẫn còn những điểm bất cập, vướng mắc trong khâu áp dụng thực tiễn, đồng thời khoa học pháp lý trong nước chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp và toàn diện ở cấp độ khóa luận/đề tài chuyên biệt về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Từ bối cảnh thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài "Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam" nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận khoa học pháp lý về quyền sử dụng nhãn hiệu, chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.
  2. Khảo cứu các quy định của điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia/khu vực (Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu) về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu để rút ra kinh nghiệm đối chiếu.
  3. Phân tích toàn diện các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam (trọng tâm là Luật Sở hữu trí tuệ) về phạm vi, giới hạn, điều kiện, nội dung, hình thức và hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.
  4. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn tại Việt Nam dựa trên số liệu đăng ký từ Cục Sở hữu trí tuệ.
  5. Đề xuất các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi cơ chế chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về quyền sử dụng nhãn hiệu; các quy định pháp luật thực định của Việt Nam, điều ước quốc tế và pháp luật nước ngoài về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; thực tiễn thực hiện và đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành điều chỉnh quan hệ chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng; phạm vi không gian là lãnh thổ Việt Nam có mở rộng đối chiếu pháp luật quốc tế (Công ước Paris 1883, Hiệp định TRIPS 1994, pháp luật Liên minh Châu Âu, pháp luật Hoa Kỳ); phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận về quyền sở hữu dân sự đối với tài sản vô hình (Điều 189 Bộ luật Dân sự 2015), lý thuyết về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và bản chất của giao dịch cấp quyền khai thác tài sản trí tuệ (Licentia). Khung pháp lý tham chiếu xuyên suốt gồm:

  • Văn bản pháp luật quốc tế: Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 5.C.2, Điều 6quater); Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS 1994, Điều 21, Điều 40).
  • Pháp luật nước ngoài: Chỉ thị 2008/95/EC của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Châu Âu, Quy chế (EC) số 207/2009 về nhãn hiệu cộng đồng, Sổ tay hướng dẫn của Cơ quan Sở hữu trí tuệ Liên minh Châu Âu (EUIPO/OHIM); Đạo luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ (Đạo luật Lanham 1946 sửa đổi 1988, Mục 5 và Mục 45).
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022); Bộ luật Dân sự 2015; Luật Doanh nghiệp.
  • Tài liệu nghiên cứu tiền bối: Luận án tiến sĩ của Hoàng Lan Phương (2022), luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Minh (2015), các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014), Đỗ Thúy Ngọc (2014), Nguyễn Bá Diễn (1999), Irene Calboli & Jacques De Werra (2016), John E. Elmore (2015), Anis Mashdurohatun (2018).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp tổng hợp: Thu thập, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý, tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các điều khoản luật định, cấu trúc quyền năng của chủ sở hữu nhãn hiệu và nội dung các điều khoản trong hợp đồng li-xăng.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (Công ước Paris, TRIPS) và pháp luật các hệ thống điển hình (EU, Hoa Kỳ) để xác định điểm tương thích và khác biệt.
  • Phương pháp thống kê, đánh giá thực tiễn: Sử dụng dữ liệu báo cáo thường niên giai đoạn 2011–2022 từ Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam để đánh giá xu hướng và phản ánh vướng mắc thực tiễn.
Tiêu chí phân tích Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (Li-xăng) Chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu
Bản chất pháp lý Cho phép khai thác công dụng, hưởng lợi ích thương mại; không chuyển dịch quyền sở hữu. Chuyển dịch toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu (bán đứt quyền tài sản).
Chủ thể thực hiện Chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc bên nhận quyền độc quyền (được phép cấp tiếp thứ cấp). Chỉ duy nhất chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu.
Phân loại giao dịch Hợp đồng độc quyền, không độc quyền, hợp đồng thứ cấp. Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu.
Giới hạn thời gian, không gian Do các bên tự thỏa thuận nhưng không vượt quá thời hạn và phạm vi bảo hộ của văn bằng. Ràng buộc cố định theo đúng phạm vi lãnh thổ và thời hạn ghi trên văn bằng bảo hộ.
Thời điểm phát sinh hiệu lực Có hiệu lực theo thỏa thuận của các bên; có giá trị pháp lý với bên thứ ba không bắt buộc đăng ký tại Cục SHTT. Chỉ phát sinh hiệu lực khi đã hoàn tất thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam

Chương 1 xây dựng các khái niệm nền tảng và đặc trưng pháp lý của quyền sử dụng nhãn hiệu cũng như hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu:

  • Quyền sử dụng nhãn hiệu: Là quyền của tổ chức, cá nhân tự mình khai thác (trừ nhãn hiệu chứng nhận) hoặc cho phép người khác khai thác công dụng của nhãn hiệu nhằm thu lợi ích kinh tế. Đặc điểm của quyền này gồm: bị giới hạn bởi phạm vi không gian (toàn lãnh thổ Việt Nam), thời gian (thời hạn văn bằng) và nội dung hành vi (Điều 124 Luật SHTT); cho phép sử dụng mẫu nhãn hiệu có sai khác nhỏ nhưng không làm thay đổi tính phân biệt (Điều 5.C.2 Công ước Paris); việc sử dụng vừa là quyền vừa là nghĩa vụ để duy trì hiệu lực văn bằng (Khoản 2 Điều 136 Luật SHTT); mang tính độc quyền tương đối.
  • Bản chất chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu: Là việc chủ sở hữu cho phép chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi và thời hạn thỏa thuận. Tác giả phân tích các điểm tương đồng và khác biệt cốt lõi giữa chuyển giao nhãn hiệu (tài sản vô hình) với chuyển giao tài sản hữu hình (không bị hao mòn vật lý mà còn gia tăng độ phổ biến, bắt buộc lập thành văn bản).
  • Ý nghĩa: Mang lại nguồn thu phí li-xăng và mở rộng thị trường cho bên giao quyền (dẫn chứng thương hiệu Philips mở rộng toàn cầu từ năm 1891); giúp bên nhận quyền tiết kiệm chi phí xây dựng thương hiệu mới; thúc đẩy cạnh tranh và nguồn thu ngân sách cho Nhà nước.
  • Phân loại và hạn chế: Phân loại hợp đồng theo phạm vi quyền (độc quyền, không độc quyền) và theo tư cách chủ thể (hợp đồng cơ bản, hợp đồng thứ cấp). Khóa luận nêu rõ các hạn chế luật định: nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho chủ thể ngoài tổ chức tập thể (ví dụ nhãn hiệu "Cam sành Hà Giang" của Hội làm vườn tỉnh Hà Giang); bên nhận quyền không được ký hợp đồng thứ cấp nếu không được chủ sở hữu đồng ý; bên nhận quyền có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên bao bì về việc sản xuất theo hợp đồng chuyển giao.

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Chương 2 tập trung phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá mối tương quan với luật pháp quốc tế:

  • Khái quát pháp luật quốc tế và nước ngoài:
    • Công ước Paris 1883: Điều 6quater quy định về chuyển giao nhãn hiệu đi kèm cơ sở sản xuất/thương mại và quyền từ chối chuyển giao nếu bên nhận quyền gây nhầm lẫn về xuất xứ, chất lượng sản phẩm.
    • Hiệp định TRIPS 1994: Điều 21 cấm việc cấp li-xăng cưỡng bức (không tự nguyện) đối với nhãn hiệu; Điều 40 cho phép các nước áp dụng biện pháp kiểm soát các điều khoản phản cạnh tranh, lạm dụng quyền SHTT trong hợp đồng.
    • Pháp luật EU & Hoa Kỳ: EU (Chỉ thị 2008/95/EC, Quy chế 207/2009) không bắt buộc đăng ký hợp đồng nhưng đăng ký để có hiệu lực đối với "bên thứ ba có liên quan"; Hoa Kỳ (Đạo luật Lanham 1946) phân định quyền khởi kiện hành vi xâm phạm giữa bên nhận quyền độc quyền (được khởi kiện như chủ sở hữu) và bên nhận quyền không độc quyền.
  • Quy định pháp luật Việt Nam:
    • Phạm vi chuyển quyền (Khoản 5 Điều 124 Luật SHTT): Gắn nhãn hiệu lên hàng hóa/bao bì/phương tiện kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo, tàng trữ để bán; nhập khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu.
    • Giới hạn bảo hộ: Giới hạn không gian trong lãnh thổ Việt Nam (Khoản 1 Điều 93); giới hạn thời gian tối đa 10 năm theo hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (Khoản 6 Điều 93), có thể gia hạn.
    • Chủ thể và Đối tượng: Chủ thể gồm bên chuyển quyền (chủ sở hữu hoặc bên nhận quyền độc quyền) và bên nhận quyền (tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác); đối tượng là quyền sử dụng nhãn hiệu (Điều 142).
    • Nội dung bắt buộc (Khoản 1 Điều 144): Tên, địa chỉ các bên; căn cứ chuyển giao; dạng hợp đồng; phạm vi chuyển giao; thời hạn; giá chuyển quyền (dẫn chứng vụ việc Karofi chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu "KAROFI, hình" theo GCN ĐKNH 204160 cho Tecomen với giá miễn phí); quyền và nghĩa vụ các bên.
    • Các điều khoản hạn chế bất hợp lý bị vô hiệu (Khoản 2 Điều 144): Cấm hạn chế xuất khẩu bất hợp lý sang vùng lãnh thổ bên giao không có quyền; cấm buộc mua nguyên liệu/linh kiện không nhằm mục đích kiểm soát chất lượng; cấm hạn chế quyền khiếu nại hiệu lực nhãn hiệu.
    • Hiệu lực hợp đồng: Hợp đồng có hiệu lực theo thỏa thuận và có giá trị pháp lý với bên thứ ba mà không bắt buộc phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ (Khoản 3 Điều 148 Luật SHTT). Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt hiệu lực khi quyền sở hữu công nghiệp của bên chuyển quyền chấm dứt (Khoản 4 Điều 148).

Chương 3: Đánh giá thực tiễn chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng từ số liệu thống kê và chỉ ra các rào cản, kiến nghị giải pháp:

  • Thực tiễn đăng ký hợp đồng: Theo Báo cáo thường niên của Cục Sở hữu trí tuệ giai đoạn từ 2011 đến 2022, đã có khoảng 1.080 hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được đăng ký, chuyển quyền cho 7.016 nhãn hiệu. Riêng trong năm 2022, Cục SHTT tiếp nhận 126 đơn đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (với 442 nhãn hiệu) và đã ghi nhận đăng ký 155 hợp đồng (với 612 nhãn hiệu).
  • Các bất cập, vướng mắc pháp lý:
    • Quy định điều khoản bắt buộc tại Điều 144: Việc dùng từ "phải có" tại Khoản 1 Điều 144 can thiệp quá sâu vào quyền tự do thỏa thuận, tạo rủi ro hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do thiếu sót điều khoản hình thức.
    • Khe hở trong kiểm soát lạm dụng vị trí độc quyền: Tình trạng các công ty mẹ nước ngoài chuyển quyền cho công ty con tại Việt Nam kèm điều kiện mua nguyên liệu chỉ định giá cao dưới vỏ bọc "bảo đảm chất lượng" để chuyển giá, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.
    • Cơ chế đăng ký tự nguyện và chuyển đổi số: Quy định bãi bỏ bắt buộc đăng ký để có hiệu lực với bên thứ ba giúp đơn giản hóa thủ tục nhưng lại thiếu cơ chế rõ ràng hỗ trợ các bên có nhu cầu đăng ký tự nguyện để công khai hóa giao dịch và phòng ngừa rủi ro tranh chấp.
    • Xác định tư cách chủ thể: Thiếu hướng dẫn cụ thể về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân nhận quyền sử dụng nhãn hiệu.
  • Định hướng kiến nghị: Hoàn thiện quy định về nội dung hợp đồng theo hướng mở và mang tính hướng dẫn thay vì bắt buộc cứng nhắc; bổ sung cơ chế kiểm soát hành vi chuyển giá qua hợp đồng li-xăng; hoàn thiện quy trình thủ tục đăng ký tự nguyện tại Cục SHTT gắn với cơ sở dữ liệu số hóa; nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp sở hữu công nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được những kết quả nghiên cứu và đóng góp cụ thể gắn liền với các số liệu và lập luận pháp lý:

  • Hệ thống hóa lý luận chuyên sâu: Xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh về "quyền sử dụng nhãn hiệu" và "hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu", làm rõ tính chất tài sản vô hình đặc thù so với các giao dịch dân sự tài sản truyền thống.
  • Phân tích đối chiếu quy chuẩn quốc tế: Chỉ ra sự chuyển biến trong quy định pháp luật Việt Nam (đặc biệt là việc sửa đổi Điều 148 Luật SHTT về hiệu lực đối với bên thứ ba) nhằm bảo đảm tính tương thích với Hiệp định TRIPS và các FTA thế hệ mới.
  • Đánh giá thực trạng bằng dữ liệu chính thống: Tổng hợp và phân tích bức tranh thực tiễn thông qua số liệu thực tế của Cục Sở hữu trí tuệ giai đoạn 2011–2022 (1.080 hợp đồng/7.016 nhãn hiệu) và năm 2022 (126 đơn nộp/442 nhãn hiệu; 155 hợp đồng cấp phép/612 nhãn hiệu).
Chỉ tiêu thống kê tại Cục Sở hữu trí tuệ Số lượng ghi nhận
Tổng số hợp đồng đăng ký giai đoạn 2011 – 2022 Khoảng 1.080 hợp đồng
Tổng số nhãn hiệu được chuyển quyền giai đoạn 2011 – 2022 7.016 nhãn hiệu
Số đơn đăng ký hợp đồng tiếp nhận trong năm 2022 126 đơn (liên quan 442 nhãn hiệu)
Số hợp đồng đã được ghi nhận đăng ký trong năm 2022 155 hợp đồng (liên quan 612 nhãn hiệu)
  • Đóng góp kiến nghị lập pháp: Chỉ rõ những bất cập về quy định "phải có" tại Khoản 1 Điều 144, cảnh báo hành vi lạm dụng điều khoản chất lượng để chuyển giá trốn thuế, và đề xuất hoàn thiện cơ chế đăng ký tự nguyện nhằm phục vụ quản lý nhà nước và nhu cầu xác lập chứng cứ của doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ luật thực định và dữ liệu thống kê thủ tục hành chính tại Cục Sở hữu trí tuệ; chưa thực hiện khảo sát định lượng diện rộng về các tranh chấp thương mại thực tế tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại liên quan đến hợp đồng li-xăng nhãn hiệu do tính bảo mật thông tin kinh doanh của các doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Tiếp tục nghiên cứu sâu về cơ chế kiểm soát chuyển giá và chống độc quyền trong các giao dịch li-xăng nhãn hiệu xuyên biên giới; hoàn thiện khung pháp lý về định giá tài sản trí tuệ làm cơ sở tính phí chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên, giảng viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại và Luật Dân sự cần tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng li-xăng nhãn hiệu và so sánh với chuẩn mực TRIPS/EU/Hoa Kỳ.
  • Doanh nghiệp và luật sư thực hành: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về cấu trúc điều khoản bắt buộc trong hợp đồng (Điều 144), nhận diện các điều khoản hạn chế có nguy cơ vô hiệu, và các lưu ý pháp lý khi giao kết hợp đồng độc quyền, không độc quyền hoặc hợp đồng thứ cấp.
  • Cơ quan quản lý và nhà lập pháp: Cung cấp cơ sở thực tiễn và lý luận để rà soát, sửa đổi các quy định về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có bắt buộc phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ để phát sinh hiệu lực pháp lý không?

Căn cứ theo Khoản 3 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên và mặc nhiên có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba mà không bắt buộc phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Đây là điểm khác biệt căn bản so với hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu (bắt buộc phải đăng ký mới có hiệu lực).

2. Các điều khoản hạn chế bất hợp lý nào trong hợp đồng li-xăng nhãn hiệu mặc nhiên bị coi là vô hiệu?

Theo Khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ, các điều khoản sau bị cấm và mặc nhiên vô hiệu:

  • Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế bên nhận quyền xuất khẩu hàng hóa sang vùng lãnh thổ mà bên chuyển quyền không nắm giữ quyền sở hữu nhãn hiệu hoặc không nắm độc quyền xuất khẩu.
  • Buộc bên nhận quyền phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định nguyên liệu, linh kiện, thiết bị từ bên chuyển quyền hoặc bên thứ ba chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
  • Cấm bên nhận quyền khiếu nại về hiệu lực của quyền sở hữu nhãn hiệu hoặc quyền chuyển giao của bên chuyển quyền.

3. Nhãn hiệu tập thể có được phép chuyển giao quyền sử dụng cho chủ thể bên ngoài không?

Theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được phép chuyển giao cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào không phải là thành viên của tổ chức tập thể đó. Ví dụ trong khóa luận: Các thành viên của Hội làm vườn tỉnh Hà Giang không được chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu "Cam sành Hà Giang" cho cá nhân, tổ chức ngoài Hội.

4. Hành vi sử dụng nhãn hiệu của bên nhận chuyển quyền có giúp chủ sở hữu tránh bị hủy bỏ hiệu lực văn bằng do không sử dụng liên tục không?

Có. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Luật Sở hữu trí tuệ, việc bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chính chủ sở hữu nhãn hiệu, qua đó bảo đảm nghĩa vụ sử dụng liên tục để duy trì hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

5. Số liệu thực tiễn đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu năm 2022 tại Việt Nam đạt mức nào?

Theo Báo cáo thường niên năm 2022 của Cục Sở hữu trí tuệ được trích dẫn trong khóa luận, trong năm 2022 có 126 đơn đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được nộp (liên quan đến 442 nhãn hiệu) và có 155 hợp đồng chuyển quyền sử dụng đã được Cục Sở hữu trí tuệ ghi nhận đăng ký chính thức (liên quan đến 612 nhãn hiệu).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Trâm là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu, giải quyết trọn vẹn cả phương diện lý luận và thực tiễn về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp phân tích luật thực định, đối sánh chuẩn mực quốc tế và xử lý dữ liệu thống kê từ Cục Sở hữu trí tuệ giai đoạn 2011–2022, tác giả đã làm rõ bản chất hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, chỉ ra các vướng mắc về điều khoản bắt buộc và kiểm soát chuyển giá. Các giải pháp hoàn thiện được đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.