Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc Cây dừa (Cocos nucifera L.) thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos, loài Cocos nucifera. Dừa là một loại cây đặc trưng ở vùng nhiệt đới, phát triển tốt ở khu vực ở Đồng bằng ven biển. Cây dừa đã phổ biến khắp các khu vực nhiệt đới và cận xích đạo nhưng tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Grimwood và Ashman, 1975). Tai New Zealand các nhà khoa học đã chỉ ra rằng các loại thực vật là tổ tiên cây đừa đã mọc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trước.
Ở Rifasthan và Maharashtra, Ấn Độ thậm chí có những hóa thạch có niên đại sớm hơn cũng đã được tìm thấy. Hiện nay giới khoa học có hai ý kiến khác nhau về nguồn gốc cây dừa, một bên cho rằng cây dừa của nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á, bên còn lại thì cho rằng hình cây dừa của nguồn gốc ở phía Tây Bắc Nam Mi, cả hai phía đều đưa ra những bằng chứng rất thuyết phục. Cho đến nay, vẫn chưa có được sự thống nhất chung về nguồn gốc của cây dừa.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa 1.1 Trên thế giới Dừa là một trong những loài cây trồng lấy dầu quan trọng. Theo thống kê của tổ chức FAO (2020), năm 2020 cây dừa được trồng trên 86 quốc gia với tổng diện tích trồng dừa là 11,58 triệu ha va sản lượng đạt 61,52 triệu tan cơm đừa/năm và tăng liên tục từ năm 2014 — 2020.
Trong đó, quốc gia đứng đầu về diện tích trồng dừa là Philippines với tổng điện tích là 3,65 triệu ha, tiếp theo đó là Indonesia với 2,77 triệu ha, đứng ở vị trí thứ ba là India với 2,15 triệu ha, kế đến là Tanzania 0,60 triệu ha và Sri Lanka 0,51 triệu ha. Theo Hiệp Hội Dừa Bến Tre năm 2018 tổng sản lượng dừa của thế giới: 70 tỷ quả. Trong đó: Án Độ 22 tỷ quả; Indonesia 16 tỷ quả; Philippines 15 tỷ quả; Brazil 3 tỷ quả; Srilanka 2,9 tỷ quả; Việt Nam 1,3 ty quả.2 Tại Việt Nam Việt Nam mặc dù chỉ đứng thứ 8 về điện tích trồng với 163.543 ha (FAO, 2020) nhưng lại xếp thứ 6 sản lượng dừa với 1.415 tan (FAO, 2020) đạt năng xuất 10. Theo đánh giá của Cộng đồng dừa quốc tế (ICC), dừa của Việt Nam vinh dự được đánh giá là có năng suất và chất lượng thuộc hàng cao nhất thé giới, điều nay đã khang định được vai trò và vị thé của dừa Việt Nam trên thị trường thé giới.
Cây dừa phân bố ở nhiều tỉnh khác nhau trên cả nước, tuy nhiên được trồng tập trung với quy mô lớn tại hai tỉnh: Bình Định của vùng Duyên hải miền Trung và Bến Tre ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Trong đó, ĐBSCL chiếm gần 80% diện tích dừa cả nước với diện tích khoảng 130. Các tỉnh có diện tích trồng dừa lớn là: Trà Vĩnh gần 20.000 ha, Tiền Giang trên 14.000 ha, Vĩnh Long trên 7.000 ha trong đó Bến Tre là tỉnh có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất cả nước, với diện tích trên 72 nghìn ha, chiếm 41% tổng điện tích dừa cả nước. Bến Tre hiện có 525 doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực dừa, và hiện có gần 200.000 hộ dân trồng dừa.
Các sản phẩm chế biến đã khai thác gần như toàn diện các nhóm sản phẩm chính, có hơn 200 sản phẩm từ dừa được sản xuất, chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khâu. Thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ dừa tiếp tục được giữ vững và mở rộng. Trong đó, Trung Quốc là thị trường đứng đầu nhập khẩu dừa Việt Nam với 30,4% thị phần đạt 33,2 triệu USD, giảm 50% so với cùng kỳ năm 2018. Thái Lan giảm 16,1%, Ai Cập giảm 28,7.Tuy nhiên, một số thị trường khác lại tăng mạnh như Qatar tăng 57,8%, Tây Ban Nha tăng 93,4%, Úc tăng 29,7%, Hàn Quốc tăng 28% (Sở Công Thương Bến Tre, 2021).3 Sau hại trên dừa Sâu hại là nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chat lượng dừa.
Cay đừa có thân cao, tán lá rộng, là điều kiện trú ân lý tưởng cho các loài sâu hại, đồng thời khiến cho việc phát hiện và phòng trừ gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, có hơn 800 loài sâu hại 4 tấn công các bộ phận như thân, lá, hoa, quả tại các vùng canh tác dừa tập trung và cây dừa ngoài tự nhiên (Shameer và ctv, 2017). Có thé kế tới một vài đối tượng nổi bật gây hại nặng như: Bọ dừa (Brontispa longissima) gây hai đừa ở một số tỉnh của Indonesia (Hosang va ctv, 2004). Đuông dừa ( Rhynchophorus ferrugineus O.) gây hại và tan pha nặng nề cây dừa ở Dia Trung Hải, Trung Đông và các nước phương Đông (Giierri- Agulló và ctv, 2010), sâu đầu đen hai đừa (Opisina arenosella Walker) là dịch hại nghiêm trọng trên các vườn dừa ở Sri Lanka (Perera và ctv, 1988).
Trong đó, bọ dừa (Brontispa longissima Gestro), đuông dừa (Rhynchophorus ferruginenus O.) và sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker) là những loài côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng nhất ở các vùng trồng dừa lớn trên thế giới (Kumara và ctv, 2015). Mới đây theo thông tin từ Trạm Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật huyện Bình Đại vào giữa tháng 7/2020 sâu đầu đen hại dừa (Opisina arenosella Walker) vừa xuất hiện gây hại hơn 30 ha. Theo Hiệp Hội Dừa Bến Tre đến cuối thang 8 năm 2022, toàn tỉnh Bến Tre đã có hơn 844 ha vườn dừa bị sâu đầu den tan công.2 Giới thiệu về ong ký sinh Trichospilus pupivorus (Hymenoptera: Eulophidae) 1.1 Nguồn gốc ong ký sinh Trichospilus pupivorus Trichospilus pupivorus là một loài nhỏ trong bộ Eulophidae, với sáu loài vẫn đang được nghiên cứu thêm (Ferricre, 1930), là một loài ký sinh nhộng trên nhiều loài gây hại nông nghiệp khác nhau (Silva và ctv, 2016; Tavares và ctv, 2012, 2013) như sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda, sầu khoang Spodoptera litura (Sathe và Chougale, 2014; Kumar va ctv, 1995), sâu bướm ăn lá Anticarsia gemmatalis (Tavares và ctv, 2012), sâu xanh đục trai Helicoverpa armigera, và sâu đầu den Opisina arenosella (Kumar va ctv, 1995), sâu đục thân mía Diatraea saccharalis (Dinardo-Miranda ctv, 2012). pupivorus có nguồn gốc Châu A, xuất hiện nhiều ở Barbados, An Độ, Malaysia, Mauritania, Mauritius, Myanmar, Papua New Guinea va Sri Lanka (Noyes, 2012).
có ty lệ phổ biến cao với mức ghi nhận vào năm 1942 ở sâu non mía (Bennett và ctv, 1987).2 Đặc điểm hình thái của ong ký sinh Trichospilus pupivorus Ong ký sinh 7. pupivorus có kích thước khá nhỏ, thân nhỏ chỉ dai từ 0,9 mm đến 2,0 mm, thân chủ yếu có màu vàng cam đến gần nâu, đôi khi có vay với một đốm lông tơ mờ nhạt. Đầu ngắn, đỉnh trước lỗi, có lông thưa, đầu có hình móng ngựa. Mắt trước lôi, tương đối lớn, có hình bầu dục, chủ yếu nhãn, có lông tơ.
Râu đầu rất ngắn, có màu vàng, mảnh mai ở con cái, rộng vừa phải ở con đực. Chân màu vàng, xương cô chân với bốn khớp. Bung gan như tròn, có màu nâu đen. Ngực nhẫn, có lông rất mịn trên trung bì với vài lông mao dai rải rác, đốt ngực thứ hai có các rãnh đọc ngang, biểu bì cắt ngắn ở đỉnh, có hai xương sống và ba đoạn xương đòn.
Cánh trước có hai chùm lông đen mọc dày, dựng đứng, một chùm nằm ngay sau đầu. Răng hàm rộng với hai răng lớn và năm răng nhỏ hơn (Ferriére, 1930). Con cái có đầu nhăn, mượt và sáng chói. Mắt đơn gần nhau, gần với màng trước hơn so với ria mắt.
Rau ngắn, rãnh thuôn hẹp, không vươn ra phía trước, chiều dai gấp ba lần chiều rộng, có hai khớp, khớp thứ nhất dài hơn khớp thứ hai một chút. Miệng có hai khớp, vòm họng có một khớp. Bụng tròn, rộng hơn nhưng ngắn hơn nhiều so với ngực, có lông rất mịn từ cuối đoạn thứ hai. Chiều đài con cái từ 1-1,2 mm (Ferrière, 1930).
Con đực có kích thước nhỏ hơn con cái, râu và chân ngắn hơn con cái, cơ thể có màu hoàn toàn vàng, chỉ có phần bụng màu nâu. Cánh màu xám khói, có nhiều hoặc ít màu nâu khói ở giữa. Chân kiềm nhỏ, ống rộng hơn nhiều (Ferriere, 1930). Khớp thứ nhất rất nhỏ, khớp thứ 2 không dài hơn nhưng rộng hơn nhiều, rộng gần bằng khớp bó phụ.
gậy không dài hơn chân kìm bao nhiêu, chân ngắn hơn và có phần dày hơn, đặc biệt là xương đùi, xương cô chân rất ngắn, 3 khớp đầu dài và rộng. Chiều dài con đực từ 0,9 mm đến 1 mm. Phân biệt con đực và con cái: con cái có phần râu dài, thon và nhọn hơn con đực. Ngoài ra con đực được phân biệt với con cái bằng một mảng màu trắng ở đầu trước của mặt bụng (Ferriére, 1930).1 Rau của ong ký sinh 7richospilus pupivorus (Silva, 2016) A.
Rau ong duc; B.3 Dac diém sinh học của ong ký sinh Trichospilus pupivorus Thời gian vũ hóa của ong 7: pupivorus là trong khoảng trung bình từ 16 đến 17 ngày trong điều kiện thuận lợi, có thể kéo dài đến 20 ngày nếu thời tiết 4m ướt hoặc giảm còn 15 ngày nếu thời tiết khô nóng. Sau khi vũ hóa ong sống được 4 - 5 ngày, có thê lên đến 7 ngày với điều kiện thuận lợi. Trong mỗi nhộng của ký chủ chứa từ 100 - 300 con ong ký sinh, mỗi một thành trùng cái ong 7: pupivorus có thê ký sinh lên năm nhộng (Ferriére, 1930). 1: pupivorus ký sinh trong vòng khoảng 24 giờ, thời kỳ sâu non kéo đài từ 5 đến 6 ngày, tiếp tục chuyền sang giai đoạn nhộng kéo dài từ 7 đến 8 ngày, sau đó phá kén phát triển thành con ong trưởng thành và bắt đầu đục các lỗ trên sâu ký chủ để chui ra ngoài.
Con cái chiếm số lượng lớn hơn con đực (Ferrière, 1930). Trứng Trứng rất nhỏ, khó có thé nhìn thay bằng mắt thường. Có hình bầu dục, tròn ở một đầu và thon dần ở đầu còn lại, có kích thước từ 0,06 đến 0,2 mm. Trứng được đẻ tự do vào dịch thé của nhộng ký chu.
Sau 24 - 30 giờ trứng nở và bắt đầu ăn chất dinh dưỡng trong nhộng ký chủ (Remadevi và ctv, 1980; Anantanarayanan, 2009). Au tring Trong 5 - 7 sau khi trứng được đẻ, ấu trùng nở ra từ trứng và bat đầu ăn dich thé của nhộng ký chủ, dần dần có màu hồng do sự hiện diện của các chất bên trong ruột mau hồng (Chong và Oetting, 2007). Thời kỳ ấu trùng kéo dai 5 — 6 ngày (Remadevi và ctv, 1980; Anantanarayanan, 2009). Chia làm 2 giai đoạn: âu trùng đầu pha có chiều dai 0,248 mm, chiều rộng 0,111 mm; ấu trùng cuối pha có chiều dai 1,247 mm, chiều rộng 0,408 mm (Remadevi va ctv, 1980; Anantanarayanan, 2009).
Sau khi được ăn đầy đủ ấu trùng sẽ bắt đầu bước vào giai đoạn tiền nhộng.