Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật ảnh hưởng của mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh nhộng trichospilus pupivorus hymenoptera eulophidae đến hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen hại dừa opisina arenosella walker lepidoptera xyloryctidae

Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng của mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus đến hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen hại dừa.

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây dừa

1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa

1.3. Giới thiệu về ong ký sinh Trichospilus pupivorus (Hymenoptera: Eulophidae)

1.3.1. Nguồn gốc ong ký sinh Trichospilus pupivorus

1.3.2. Đặc điểm hình thái của ong ký sinh Trichospilus pupivorus

1.3.3. Đặc điểm sinh học của ong ký sinh Trichospilus pupivorus

1.3.4. Hành vi ký sinh của ong ký sinh Trichospilus pupivorus

1.4. Sâu đầu đen Opisina arenosella Walker (Lepidoptera: Xyloryctidae)

1.4.1. Đặc điểm hình thái, sinh học

1.4.2. Khả năng gây hại của Opisina arenosella

1.4.3. Điều kiện phát sinh và phát triển

1.4.4. Kiểm soát sinh học sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung, thời gian và địa điểm thực hiện

2.2. Vật liệu và dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu

2.3. Điều kiện khí hậu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Nhân nguồn ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus

2.4.2. Nghiên cứu mật số phóng thả ở điều kiện ngoài đồng

2.4.3. Nghiên cứu chu kỳ phóng thả ở điều kiện ngoài đồng

2.4.4. Chỉ tiêu theo đối tượng

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Diễn biến mức độ sâu đầu đen gây hại tại vườn dừa thực hiện thí nghiệm

3.1.1. Vườn thí nghiệm không thả ong ký sinh

3.1.2. Vườn thí nghiệm phóng thả mật số 1000 ong ký sinh nhộng/1000 m² dừa

3.1.3. Vườn thí nghiệm phóng thả mật số 3000 ong ký sinh nhộng/1000 m² dừa

3.1.4. Vườn thí nghiệm phóng thả mật số 5000 ong ký sinh nhộng/1000 m² dừa

3.1.5. Vườn thí nghiệm chu kỳ thả 10 lần (cách 10 ngày)

3.1.6. Nghiên cứu xác định mật số khi phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus

3.1.7. Nghiên cứu xác định chu kỳ khi phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật

Khóa luận tốt nghiệp về bảo vệ thực vật nghiên cứu ảnh hưởng của mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus đến hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen hại dừa Opisina arenosella. Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Bến Tre, nơi có diện tích dừa lớn nhất cả nước. Mục tiêu chính là xác định mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh để đạt hiệu quả kiểm soát sâu hại.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus để kiểm soát hiệu quả sâu đầu đen Opisina arenosella tại Bến Tre.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu trong bảo vệ thực vật

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các biện pháp kiểm soát sinh học, giảm thiểu sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

II. Vấn đề và thách thức trong kiểm soát sâu đầu đen hại dừa

Sâu đầu đen Opisina arenosella là một trong những loài sâu hại nghiêm trọng nhất đối với cây dừa. Việc kiểm soát loài sâu này gặp nhiều khó khăn do đặc tính sinh học và hành vi của chúng. Nông dân thường phải đối mặt với thiệt hại lớn về năng suất và chất lượng dừa.

2.1. Đặc điểm sinh học của sâu đầu đen

Sâu đầu đen có khả năng sinh sản nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, gây khó khăn cho việc kiểm soát.

2.2. Tác động của sâu đầu đen đến sản xuất dừa

Sâu đầu đen gây thiệt hại lớn cho năng suất dừa, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân và sự phát triển bền vững của ngành dừa tại Bến Tre.

III. Phương pháp nghiên cứu mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh

Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai thí nghiệm chính: thí nghiệm về mật số phóng thả và thí nghiệm về chu kỳ phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus. Các thí nghiệm được tiến hành tại các vườn dừa ở Bến Tre với các điều kiện tự nhiên khác nhau.

3.1. Thí nghiệm về mật số phóng thả

Thí nghiệm này nghiên cứu các mật số phóng thả khác nhau: không phóng thả, phóng thả 1000, 3000 và 5000 ong ký sinh nhộng/1000 m² dừa.

3.2. Thí nghiệm về chu kỳ phóng thả

Thí nghiệm này nghiên cứu các chu kỳ phóng thả khác nhau: không thả, thả 4 lần cách 30 ngày và thả 10 lần cách 10 ngày.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen

Kết quả nghiên cứu cho thấy mật số phóng thả 5000 ong ký sinh nhộng/1000 m² dừa có khả năng kiểm soát sâu đầu đen cao nhất, đạt 73,38%. Các mật số khác cũng cho kết quả khả quan nhưng thấp hơn. Chu kỳ phóng thả 4 lần cách 30 ngày cũng cho hiệu quả kiểm soát tốt.

4.1. Hiệu quả của mật số phóng thả

Mật số phóng thả 5000 ong ký sinh nhộng cho kết quả kiểm soát sâu đầu đen cao nhất, cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn mật số phù hợp.

4.2. Hiệu quả của chu kỳ phóng thả

Chu kỳ phóng thả 4 lần cách 30 ngày cho thấy hiệu quả kiểm soát tốt, khẳng định tầm quan trọng của việc xác định chu kỳ phóng thả hợp lý.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu đã xác định được mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh Trichospilus pupivorus hiệu quả trong việc kiểm soát sâu đầu đen Opisina arenosella. Kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc áp dụng kiểm soát sinh học trong nông nghiệp, giảm thiểu hóa chất độc hại.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong bảo vệ thực vật

Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát sâu hại, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các phương pháp kiểm soát sinh học, mở rộng ứng dụng cho các loài sâu hại khác trong nông nghiệp.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật ảnh hưởng của mật số và chu kỳ phóng thả ong ký sinh nhộng trichospilus pupivorus hymenoptera eulophidae đến hiệu quả kiểm soát sâu đầu đen hại dừa opisina arenosella walker lepidoptera xyloryctidae

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc Cây dừa (Cocos nucifera L.) thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos, loài Cocos nucifera. Dừa là một loại cây đặc trưng ở vùng nhiệt đới, phát triển tốt ở khu vực ở Đồng bằng ven biển. Cây dừa đã phổ biến khắp các khu vực nhiệt đới và cận xích đạo nhưng tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Grimwood và Ashman, 1975). Tai New Zealand các nhà khoa học đã chỉ ra rằng các loại thực vật là tổ tiên cây đừa đã mọc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trước.

Ở Rifasthan và Maharashtra, Ấn Độ thậm chí có những hóa thạch có niên đại sớm hơn cũng đã được tìm thấy. Hiện nay giới khoa học có hai ý kiến khác nhau về nguồn gốc cây dừa, một bên cho rằng cây dừa của nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Á, bên còn lại thì cho rằng hình cây dừa của nguồn gốc ở phía Tây Bắc Nam Mi, cả hai phía đều đưa ra những bằng chứng rất thuyết phục. Cho đến nay, vẫn chưa có được sự thống nhất chung về nguồn gốc của cây dừa.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa 1.1 Trên thế giới Dừa là một trong những loài cây trồng lấy dầu quan trọng. Theo thống kê của tổ chức FAO (2020), năm 2020 cây dừa được trồng trên 86 quốc gia với tổng diện tích trồng dừa là 11,58 triệu ha va sản lượng đạt 61,52 triệu tan cơm đừa/năm và tăng liên tục từ năm 2014 — 2020.

Trong đó, quốc gia đứng đầu về diện tích trồng dừa là Philippines với tổng điện tích là 3,65 triệu ha, tiếp theo đó là Indonesia với 2,77 triệu ha, đứng ở vị trí thứ ba là India với 2,15 triệu ha, kế đến là Tanzania 0,60 triệu ha và Sri Lanka 0,51 triệu ha. Theo Hiệp Hội Dừa Bến Tre năm 2018 tổng sản lượng dừa của thế giới: 70 tỷ quả. Trong đó: Án Độ 22 tỷ quả; Indonesia 16 tỷ quả; Philippines 15 tỷ quả; Brazil 3 tỷ quả; Srilanka 2,9 tỷ quả; Việt Nam 1,3 ty quả.2 Tại Việt Nam Việt Nam mặc dù chỉ đứng thứ 8 về điện tích trồng với 163.543 ha (FAO, 2020) nhưng lại xếp thứ 6 sản lượng dừa với 1.415 tan (FAO, 2020) đạt năng xuất 10. Theo đánh giá của Cộng đồng dừa quốc tế (ICC), dừa của Việt Nam vinh dự được đánh giá là có năng suất và chất lượng thuộc hàng cao nhất thé giới, điều nay đã khang định được vai trò và vị thé của dừa Việt Nam trên thị trường thé giới.

Cây dừa phân bố ở nhiều tỉnh khác nhau trên cả nước, tuy nhiên được trồng tập trung với quy mô lớn tại hai tỉnh: Bình Định của vùng Duyên hải miền Trung và Bến Tre ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Trong đó, ĐBSCL chiếm gần 80% diện tích dừa cả nước với diện tích khoảng 130. Các tỉnh có diện tích trồng dừa lớn là: Trà Vĩnh gần 20.000 ha, Tiền Giang trên 14.000 ha, Vĩnh Long trên 7.000 ha trong đó Bến Tre là tỉnh có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất cả nước, với diện tích trên 72 nghìn ha, chiếm 41% tổng điện tích dừa cả nước. Bến Tre hiện có 525 doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực dừa, và hiện có gần 200.000 hộ dân trồng dừa.

Các sản phẩm chế biến đã khai thác gần như toàn diện các nhóm sản phẩm chính, có hơn 200 sản phẩm từ dừa được sản xuất, chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khâu. Thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ dừa tiếp tục được giữ vững và mở rộng. Trong đó, Trung Quốc là thị trường đứng đầu nhập khẩu dừa Việt Nam với 30,4% thị phần đạt 33,2 triệu USD, giảm 50% so với cùng kỳ năm 2018. Thái Lan giảm 16,1%, Ai Cập giảm 28,7.Tuy nhiên, một số thị trường khác lại tăng mạnh như Qatar tăng 57,8%, Tây Ban Nha tăng 93,4%, Úc tăng 29,7%, Hàn Quốc tăng 28% (Sở Công Thương Bến Tre, 2021).3 Sau hại trên dừa Sâu hại là nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chat lượng dừa.

Cay đừa có thân cao, tán lá rộng, là điều kiện trú ân lý tưởng cho các loài sâu hại, đồng thời khiến cho việc phát hiện và phòng trừ gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, có hơn 800 loài sâu hại 4 tấn công các bộ phận như thân, lá, hoa, quả tại các vùng canh tác dừa tập trung và cây dừa ngoài tự nhiên (Shameer và ctv, 2017). Có thé kế tới một vài đối tượng nổi bật gây hại nặng như: Bọ dừa (Brontispa longissima) gây hai đừa ở một số tỉnh của Indonesia (Hosang va ctv, 2004). Đuông dừa ( Rhynchophorus ferrugineus O.) gây hại và tan pha nặng nề cây dừa ở Dia Trung Hải, Trung Đông và các nước phương Đông (Giierri- Agulló và ctv, 2010), sâu đầu đen hai đừa (Opisina arenosella Walker) là dịch hại nghiêm trọng trên các vườn dừa ở Sri Lanka (Perera và ctv, 1988).

Trong đó, bọ dừa (Brontispa longissima Gestro), đuông dừa (Rhynchophorus ferruginenus O.) và sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker) là những loài côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng nhất ở các vùng trồng dừa lớn trên thế giới (Kumara và ctv, 2015). Mới đây theo thông tin từ Trạm Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật huyện Bình Đại vào giữa tháng 7/2020 sâu đầu đen hại dừa (Opisina arenosella Walker) vừa xuất hiện gây hại hơn 30 ha. Theo Hiệp Hội Dừa Bến Tre đến cuối thang 8 năm 2022, toàn tỉnh Bến Tre đã có hơn 844 ha vườn dừa bị sâu đầu den tan công.2 Giới thiệu về ong ký sinh Trichospilus pupivorus (Hymenoptera: Eulophidae) 1.1 Nguồn gốc ong ký sinh Trichospilus pupivorus Trichospilus pupivorus là một loài nhỏ trong bộ Eulophidae, với sáu loài vẫn đang được nghiên cứu thêm (Ferricre, 1930), là một loài ký sinh nhộng trên nhiều loài gây hại nông nghiệp khác nhau (Silva và ctv, 2016; Tavares và ctv, 2012, 2013) như sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda, sầu khoang Spodoptera litura (Sathe và Chougale, 2014; Kumar va ctv, 1995), sâu bướm ăn lá Anticarsia gemmatalis (Tavares và ctv, 2012), sâu xanh đục trai Helicoverpa armigera, và sâu đầu den Opisina arenosella (Kumar va ctv, 1995), sâu đục thân mía Diatraea saccharalis (Dinardo-Miranda ctv, 2012). pupivorus có nguồn gốc Châu A, xuất hiện nhiều ở Barbados, An Độ, Malaysia, Mauritania, Mauritius, Myanmar, Papua New Guinea va Sri Lanka (Noyes, 2012).

có ty lệ phổ biến cao với mức ghi nhận vào năm 1942 ở sâu non mía (Bennett và ctv, 1987).2 Đặc điểm hình thái của ong ký sinh Trichospilus pupivorus Ong ký sinh 7. pupivorus có kích thước khá nhỏ, thân nhỏ chỉ dai từ 0,9 mm đến 2,0 mm, thân chủ yếu có màu vàng cam đến gần nâu, đôi khi có vay với một đốm lông tơ mờ nhạt. Đầu ngắn, đỉnh trước lỗi, có lông thưa, đầu có hình móng ngựa. Mắt trước lôi, tương đối lớn, có hình bầu dục, chủ yếu nhãn, có lông tơ.

Râu đầu rất ngắn, có màu vàng, mảnh mai ở con cái, rộng vừa phải ở con đực. Chân màu vàng, xương cô chân với bốn khớp. Bung gan như tròn, có màu nâu đen. Ngực nhẫn, có lông rất mịn trên trung bì với vài lông mao dai rải rác, đốt ngực thứ hai có các rãnh đọc ngang, biểu bì cắt ngắn ở đỉnh, có hai xương sống và ba đoạn xương đòn.

Cánh trước có hai chùm lông đen mọc dày, dựng đứng, một chùm nằm ngay sau đầu. Răng hàm rộng với hai răng lớn và năm răng nhỏ hơn (Ferriére, 1930). Con cái có đầu nhăn, mượt và sáng chói. Mắt đơn gần nhau, gần với màng trước hơn so với ria mắt.

Rau ngắn, rãnh thuôn hẹp, không vươn ra phía trước, chiều dai gấp ba lần chiều rộng, có hai khớp, khớp thứ nhất dài hơn khớp thứ hai một chút. Miệng có hai khớp, vòm họng có một khớp. Bụng tròn, rộng hơn nhưng ngắn hơn nhiều so với ngực, có lông rất mịn từ cuối đoạn thứ hai. Chiều đài con cái từ 1-1,2 mm (Ferrière, 1930).

Con đực có kích thước nhỏ hơn con cái, râu và chân ngắn hơn con cái, cơ thể có màu hoàn toàn vàng, chỉ có phần bụng màu nâu. Cánh màu xám khói, có nhiều hoặc ít màu nâu khói ở giữa. Chân kiềm nhỏ, ống rộng hơn nhiều (Ferriere, 1930). Khớp thứ nhất rất nhỏ, khớp thứ 2 không dài hơn nhưng rộng hơn nhiều, rộng gần bằng khớp bó phụ.

gậy không dài hơn chân kìm bao nhiêu, chân ngắn hơn và có phần dày hơn, đặc biệt là xương đùi, xương cô chân rất ngắn, 3 khớp đầu dài và rộng. Chiều dài con đực từ 0,9 mm đến 1 mm. Phân biệt con đực và con cái: con cái có phần râu dài, thon và nhọn hơn con đực. Ngoài ra con đực được phân biệt với con cái bằng một mảng màu trắng ở đầu trước của mặt bụng (Ferriére, 1930).1 Rau của ong ký sinh 7richospilus pupivorus (Silva, 2016) A.

Rau ong duc; B.3 Dac diém sinh học của ong ký sinh Trichospilus pupivorus Thời gian vũ hóa của ong 7: pupivorus là trong khoảng trung bình từ 16 đến 17 ngày trong điều kiện thuận lợi, có thể kéo dài đến 20 ngày nếu thời tiết 4m ướt hoặc giảm còn 15 ngày nếu thời tiết khô nóng. Sau khi vũ hóa ong sống được 4 - 5 ngày, có thê lên đến 7 ngày với điều kiện thuận lợi. Trong mỗi nhộng của ký chủ chứa từ 100 - 300 con ong ký sinh, mỗi một thành trùng cái ong 7: pupivorus có thê ký sinh lên năm nhộng (Ferriére, 1930). 1: pupivorus ký sinh trong vòng khoảng 24 giờ, thời kỳ sâu non kéo đài từ 5 đến 6 ngày, tiếp tục chuyền sang giai đoạn nhộng kéo dài từ 7 đến 8 ngày, sau đó phá kén phát triển thành con ong trưởng thành và bắt đầu đục các lỗ trên sâu ký chủ để chui ra ngoài.

Con cái chiếm số lượng lớn hơn con đực (Ferrière, 1930). Trứng Trứng rất nhỏ, khó có thé nhìn thay bằng mắt thường. Có hình bầu dục, tròn ở một đầu và thon dần ở đầu còn lại, có kích thước từ 0,06 đến 0,2 mm. Trứng được đẻ tự do vào dịch thé của nhộng ký chu.

Sau 24 - 30 giờ trứng nở và bắt đầu ăn chất dinh dưỡng trong nhộng ký chủ (Remadevi và ctv, 1980; Anantanarayanan, 2009). Au tring Trong 5 - 7 sau khi trứng được đẻ, ấu trùng nở ra từ trứng và bat đầu ăn dich thé của nhộng ký chủ, dần dần có màu hồng do sự hiện diện của các chất bên trong ruột mau hồng (Chong và Oetting, 2007). Thời kỳ ấu trùng kéo dai 5 — 6 ngày (Remadevi và ctv, 1980; Anantanarayanan, 2009). Chia làm 2 giai đoạn: âu trùng đầu pha có chiều dai 0,248 mm, chiều rộng 0,111 mm; ấu trùng cuối pha có chiều dai 1,247 mm, chiều rộng 0,408 mm (Remadevi va ctv, 1980; Anantanarayanan, 2009).

Sau khi được ăn đầy đủ ấu trùng sẽ bắt đầu bước vào giai đoạn tiền nhộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ