phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận đƣợc chia làm 2 chƣơng, 5 tiết. Khóa luận luật học 12 NỘI DUNG Chƣơng 1. Khái quát chung về quyền con ngƣời và giáo dục quyền con ngƣời trong quá trình xây dựng Nhà nƣớc Pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 1.1: Khái niệm quyền con người, quyền công dân 1.1: Khái niệm quyền con người Nhận thức về quyền con ngƣời là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài ngƣời, là giá trị tinh thần quý giá của nền văn minh nhân loại. Khái niệm “quyền con ngƣời” (Human Rights) xuất hiện đầu tiên ở phƣơng Tây thế kỷ XVII - XVIII.
Trong một số tác phẩm của các nhà tƣ tƣởng nhƣ J. đã đề cập đến khái niệm này. Sau đó khái niệm này đã đƣợc cụ thể hóa trong một số văn bản có tính chất pháp lý của một số quốc gia nhƣ: Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về quyền con ngƣời và quyền công dân ở Pháp năm 1789,v.v… Cuối cùng quyền con ngƣời cũng trở thành vấn đề quốc tế mà các quốc gia cùng quan tâm và bảo hộ khi hàng loạt các điều ƣớc quốc tế ghi nhận. Khóa luận luật học Khái niệm quyền con ngƣời có nguồn gốc từ thời Hy lạp cổ dƣới dạng các quyền tự nhiên của con ngƣời nhƣ quyền đƣợc sống.
Dƣới chế độ chiếm hữu nô lệ, ngƣời nô lệ không đƣợc coi là con ngƣời, không có và không đƣợc thừa nhận các quyền con ngƣời. Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là một bƣớc tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con ngƣời. Giai cấp tƣ sản là giai cấp đầu tiên nêu ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng các tƣ tƣởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động để tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con ngƣời, “quyền tƣ hữu thiêng liêng”. Khái niệm quyền con ngƣời lần đầu tiên đƣợc chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng nhƣ Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn về quyền con ngƣời và quyền công dân của Pháp 1789, Tuyên ngôn cộng sản 1848.
Quyền con ngƣời (Nhân quyền) là những quyền tự nhiên của con ngƣời và không bị tƣớc bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Trong “Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, đã khẳng định: “…tất cả mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng… tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể 13 xâm phạm đƣợc, trong những quyền đó có quyền đƣợc sống, quyền tự do, và quyền mƣu cầu hạnh phúc” [73, tr. Nhƣ vậy, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 có thể đƣợc coi là sự xác nhận chính thức, đầu tiên về mặt nhà nƣớc về quyền con ngƣời trong lịch sử phát triển của quyền con ngƣời. Khi đánh giá về văn kiện này, C.Mác đã cho rằng: Nƣớc Mỹ - đó là nơi: “Lần đầu tiên xuất hiện ý tƣởng về một nƣớc cộng hòa dân chủ vĩ đại thống nhất, bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên đã đƣợc công bố và đã có sự thúc đẩy đầu tiên đối với cuộc cách mạng Châu Âu thế kỷ XVIII” [53, tr.
Tuyên ngôn này là cơ sở để xây dựng nên bản hiến pháp của Mỹ năm 1787. Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền càng trở nên bức xúc và trở thành mối quan tâm sâu sắc của các quốc gia dân tộc trên thế giới cũng nhƣ của toàn thể cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở đó, một tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời và đã thông qua bản “Hiến chƣơng Liên Hợp Quốc” ngày 24 -10 – 1945 với mục đích và nhiệm vụ chính là vì vấn đề con ngƣời trên phạm Khóa luận luật học vi toàn cầu. Sau 3 năm thành lập, tháng 12 năm 1948, Liên Hợp Quốc đã công bố bản “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền”.
Trên cơ sở này, hàng loạt văn kiện quốc tế về nhân quyền đƣợc công bố, ký kết và trở thành luật pháp quốc tế về quyền con ngƣời. Tuy vậy giai cấp tƣ sản chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị, mà chƣa chú trọng quyền kinh tế, văn hoá, xã hội là cơ sở và điều kiện quan trọng để ngƣời lao động thoát khỏi đói nghèo và bị bóc lột. Cách mạng tháng 10 Nga đã tạo nên một phạm trù mới về quyền con ngƣời: đó là các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, các nƣớc XHCN đã đi đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản nhƣ bộ phận thiết yếu của các quyền tập thể, đƣa ra cách đề cập toàn diện và biện chứng hơn về quyền con ngƣời.
Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội của loài ngƣời, nội dung các quyền con ngƣời tiếp tục phát triển. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng và bảo đảm quyền con ngƣời đã có một lịch sử truyền thống lâu đời, gắn liền với quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân 14 tộc. Tuy nhiên, vấn đề quyền con ngƣời mới thực sự đƣợc đề cao và xem trọng cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lúc này vấn đề quyền con ngƣời đã đƣợc chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia. Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhận các quyền thiêng liêng của con ngƣời.
Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 không chỉ thừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con ngƣời, quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế mà còn khẳng định rõ: Nhà nƣớc Việt Nam là nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân. Đặc biệt khái niệm quyền con ngƣời lần đầu tiên đƣợc đƣợc đƣa vào Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) trong một chế định cụ thể. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, “quyền con ngƣời” là phạm trù lịch sử có quá trình hình thành, phát triển, phản ánh những quy luật vận động khách quan của con ngƣời và là thành quả của quá trình đấu tranh lâu dài trong lịch sử. Mỗi thời đại, nhân dân lao động và các dân tộc đều phải trải qua sự đấu Khóa luận luật học tranh, hy sinh cũng vì quyền con ngƣời.
Vấn đề quyền con ngƣời luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội và tiến bộ của nhân loại. Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời tùy thuộc vào từng hình thái kinh tế - xã hội khác nhau mà vấn đề quyền con ngƣời cũng đƣợc lý giải và thực hiện theo nhiều cấp độ khác nhau. Quan niệm thứ nhất bắt nguồn từ chỗ coi con ngƣời là một thực thể tự nhiên, nên quyền con ngƣời phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con ngƣời, quyền lợi của con ngƣời với tƣ cách là ngƣời, gắn liền với cá nhân con ngƣời, không thể tách rời. Quan điểm này đƣợc các đại biểu tƣ tƣởng của giai cấp tƣ sản ở thế kỷ XVII, XVIII nhƣ Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp quyền tự nhiên.
Trƣờng phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nƣớc. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (giáo sƣ đại học khoa học xã hội Toulouse) đƣa ra định nghĩa: "Quyền con ngƣời là những đặc quyền đƣợc các quy tắc điều 15 khiển mà con ngƣời giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [42, tr. Quan niệm thứ hai lại chỉ đặt con ngƣời và quyền con ngƣời trong mối quan hệ xã hội. Quan niệm này cho rằng, con ngƣời chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó chỉ đƣợc xác định trong mối tƣơng quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó đƣợc chế độ nhà nƣớc, pháp luật điều chỉnh bảo vệ.
Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con ngƣời là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con ngƣời trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con ngƣời là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con ngƣời cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của quyền con ngƣời ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định. Quan niệm thứ ba là quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề Khóa luận luật học quyền con ngƣời.
Xuất phát từ quan niệm coi con ngƣời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng con ngƣời: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [60, tr. Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ngƣời là "động vật xã hội có khả năng tái sinh ra con ngƣời, con ngƣời là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa” [60, tr. Do đó, về mặt này quyền con ngƣời trƣớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ngƣời không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nƣớc mà quyền con ngƣời trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, đƣợc thể hiện ở quyền đƣợc sống, quyền tự do, quyền đƣợc sáng tạo, phát triển, quyền đƣợc đối xử nhƣ con ngƣời, xứng đáng với con ngƣời.
Xét về mặt xã hội, con ngƣời mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhƣng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con ngƣời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong luận cƣơng thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con 16 ngƣời là tổng hòa những quan hệ xã hội" [60, tr. Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì quyền con ngƣời, ngay từ khi có xã hội loài ngƣời, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội. Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nƣớc, đã tạo ra những chuyển biến có tính "bƣớc ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tƣơng quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con ngƣời.
Đi kèm xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp.