Chương 1:NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY VE QUYEN HOC TAP CUA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 11. Khái quát quá trình hình thành va phát triển của quyền con người "Những ý tưởng về quyển con người đã xuất hiện từ rất sớm trong lich si, gin liên với sư phát triển của xã hội loài người. Người ta thường nhắc đến. một số bộ luật thời kỷ cỗ dai vả các tư tưởng về quyển con người được thể hiện trong các học thuyết, từ tưởng tôn giáo, chính trị, pháp lý như Bộ luật Unukagina (khoảng năm 2350 TCN), Bộ luật Umamrnu (khoảng năm 1780 TCN), tư tưởng Nho giáo (Khổng Tử), Kinh Phật (Đạo Phật), Kinh Vệ Da (Đạo Hindu, Kinh Thanh (Đạo Thiên Chúa), Kinh Coran (Đạo Hồi) Do phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội, từ duy vẻ xã hội nói chung, đặc biệt la tư duy triết hoc và chính trị của mỗi thời đại nói riêng, quyền con người với tinh chất là quyền cơ ban của tắt cả các cá nhân chỉ được thửa nhận một cách rông rồi trong công đồng quốc tế từ sau Chiến tranh Thể giới lên thứ II, đặc biệt với việc Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngén thể giới về quyển con người năm 1948 (UDHR).
Cùng với UDHR, các điều ước quốc tế đa phương va khu vực về quyên con người, nhất là Công ước về các quyền. dân su, chính tri năm 1966 (ICCPR) vả Công ước về các quyển kinh t, sã hội, văn hóa năm 1966 (ICESCR) đã thiết lập nên chuẩn mục todn câu về các quyển cơ ban của con người trong lĩnh vực dân sự, chính tr, kinh tế, xã hội và ‘vin hoa. Trong xu thé phát chung vé quyển con người, quyền của người dân tộc thiểu số, bao gồm quyển học tập từng bước được thừa nhận rồng rối trên bình điện quốc té và quốc gia "Thời kỳ đâu mới thành lập, Liên hop quốc không dành sự quan tâm thích: đáng đến van dé người thiểu số. Da số các quốc gia thành viên khi đó đều cho rang van để quyển của người thiểu số đã bao gồm trong van dé quyên con người nöi chung nên không cân thiết phải xây dựng những văn kiện hay cơ chế riéng cho nhóm nấy.
Hiển chương Liên hợp quốc không dé cập đến quyền của người thiểu số, nhưng bao gồm một điễu khoăn vé quyển con người, ví dụ: Điều 1(3) sắc định một trong những mục dich của Liên hợp quốc la thực hiến hop tác quốc. tế để thúc đẩy và khuyển khich tôn trọng quyển con người và các quyền tư do cơ ban cho tất cả mọi người ma không phân biết chủng tộc, giới tính, ngôn. ngữ hoặc tôn giáo. “Trong qua tình soạn thao UDHR cũng có ý kién nêu rằng cần đưa vào ít nhất một điều khoản dé cập riêng dén quyén của người thiểu sô, song ý kiến nay cũng không nhân được sự ting hô rông rãi của các quốc gia.
Tuy nhiên, quyển của người thiểu số vấn được dé cập trong một số điều khoản của. UDHR, bao gém Điều 2 (vẻ nguyên tắc bình đẳng, không phân biết đổi xử trong việc hưởng thu cắc quyền con người), Điều 18 (về tư do tôn giáo), Điều. 19 (vé tự do ngôn luôn va ý kiên), Biéu 20 (vẻ tự do hội hop, lap hội), Biéu 26 (về tw do lựa chọn hình thức giáo duc), Điều 27 (về tự do tham gia vào đời sống văn hóa của công đẳng) Mặc dù gặp khó khăn trong việc pháp điển hóa các quyển của người thiểu số vo luật quốc tế, song những nỗ lực quốc tế cũng dẫn tới một kết quả quan trọng là việc thành lập Tiểu ban về ngăn ngừa và bảo vệ người thiểu số. Tuy Tiểu ban này có nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng chức năng chủ yếu là bảo vệ và thúc đẩy các quyển của người thiểu số.
Trong Nghị quyết 217C (II ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã khuyến nghị Hội đồng Kinh té xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) tiền hành những nghiên cứu về quyển của người thiểu số. Đây lé cơ sỡ để Tiểu ban về ngăn ngừa va bao vệ người thiểu số thực hiện các công trình nghiên cứu va đưa ra những khuyến nghĩ quan trọng về quyên cia người thiểu số, một những kết quả nỗi bật là việc đưa vào ICCPR và ICEHR quy định riêng vẻ quyển của người thi cũng như thông qua Tuyên bổ vẻ người dân tộc thiểu số của Liên hợp quốc năm 1992 Năm 1995, Ủy ban Nhân quyền đã thánh lp một nhóm công tác gồm năm thành viên để xem xét việc thúc đẩy vả hiện thực hóa Tuyên bố 1992, nghiên cứu giải pháp kha thi cho những van để liên quan đến người thiểu số vả khuyến nghị các biện pháp khác, nếu thích hợp, để thúc đẩy và bảo vé quyển của người dân tộc thiểu số ? Nhóm Công tác về người thiểu số đã tố chức 12 phiên hop từ năm 1995 đến 2006 và cung cấp một vị trí dé đại diện của các dân tộc thiểu số trình bay các vẫn để tại Liên hợp quốc vả tham gia đổi thoại trực tiếp với các quốc gia. Nhóm Công tác đã đạt được nhiễu thành tựu, không chỉ trong việc pháp lý hóa các quyền của người dan tộc thiểu số ma con bằng cách thiết lập các thông lệ tốt và các biện pháp khác để thúc đầy và bảo vệ các nhóm thiểu số 3 Năm 2005, Nhóm Công tác đã thông qua Bình. luận về Tuyên b6 1992 Hiện nay, quyển của người thiểu số, bao gồm quyển học tập đã được.
thửa nhân rộng rãi và được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, đặc bit là các điển ước quốc tế có gia trị pháp lý rang buộc đổi với các quốc gia 12. Quyền học tập của người dân tộc thiểu số dưới góc độ quyền của. nhóm và quyền con người cơ bản. Khải niệm người dân tộc thiểu số Quyền của người dân tộc thiểu số với tính chất lả quyền của nhóm va quyền con người cơ bản được ghi nhận va bao vệ bởi pháp luật quốc tế va pháp luật quốc gia.
Tuy nhiên, khái niệm "người dân tộc thiểu số" chưa được Resobsion 19954 gan "+ Ô Waking «Grate from nr che orgy DUMssuesMMimariies ages! ‘Tatars WGenkénaraies sp 10 định nghĩa trong bat kỹ văn kiện pháp lý quốc tế nảo. Các nhóm thiểu số hay được dé cập đến là công đồng người có số lượng it vé dan tộc, chủng tộc, tôn. giáo và ngôn ngữ. Trong Ý sadn tư vẫn năm 1930, Pháp viện thường trực quốc tế (PCW) có quan điểm ring "một nhóm người sống trên một quốc gia hoc địa phương nhất đính, có những đặc điểm đông nhất vẻ ching tộc, tin ngưỡng, ngôn ngữ vả truyền thông, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong.
việc bao lưu những yêu tổ truyền thống, duy trì tôn giáo, tin ngưỡng và hướng, dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh than va truyền thống của. chiing tộc họ"'. PCLT đã có những cổ gắng để định nghĩa trên được sử dụng như một định nghĩa chính thức về người dân tộc thiểu sổ, tuy nhiên những nỗ. lực dé không đạt được kết qua, bởi nó đông cham đến mối lo ngại thường trực của các quốc gia vẻ những rắc rối vẻ an ninh, tt tư xã hội có thé nay sinh trong những van để liên quan đền người thiểu số.“ Bên cạnh đó, tôn tại những quan điểm khác nhau về người dân tộc thiểu.
số: người dân tộc thiểu số la một nhóm người có quốc tịch của quốc gia sở tai, xét về mặt số lượng, ít hơn so với phân dân cư còn lại của quốc gia va có vị thể yêu trong zã hồi, người dân tộc thiểu sé lả một nhóm công dân của một quốc gia, ít vé mặt số lượng và yếu vé vị thé trong quốc gia đó, mang những đặc trưng vẻ chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ ma tao sự khác biệt so với nhóm. dân cư da số. Theo Francesco Capotorti, Bao cáo viên đặc biệt của Tiểu ban vẻ chống phân biệt đối xử va bảo vệ người thiểu số của Liên hợp quốc, người thiểu số là một nhóm người, xét vẻ mặt số lượng, ít hơn so với phân dân cur côn lại của quốc gia, có vi thé yêu trong xã hội, những thành viên của nhóm~ “Pour, Greco Bingen "Zgrxundid”, Advisory Opn of 31 hy 1930,p 21 Bia duh cia Nggễn Bing Dng, Vi Căng Gino Li Ka Tg (itn), Cio rh 9 I va ph htv pen conn, Hot Init,Deshocquic et Hi Nội, 009, 317 ` Ngyễn Ding Dong, Vũ Công Gino, Li Eh Ting (dvi bin), Gi6 minh Jf hit và php hệt vd gyỗn cmnnguhi 318 "1 ma dang lả công dân của một nước — có những đặc trưng về chủng tộc, tin ngưỡng hoäc ngôn ngữ khác so với phan dan cư còn lại và chứng tô tổ rang là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tổn nén văn hóa, truyền. thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ ® "Như vậy, giống như PCU, Francesco cơ bản dựa vao những đặc trừng về chủng tộc, tôn giao, truyền thông, ngôn ngữ vả ý thức thong nhất trong việc ‘bao tôn các yếu tổ truyền thông văn hóa để xác định một nhóm người lả thiểu số.
Tuy nhiên, so với PCL, Francesco đã bỗ sung hai thuộc tính mới, dé là vé mặt số lượng, một nhóm được coi là thiéu so phải ít hơn so với phần dân cư. còn lại của quốc gia và về mặt vai trò, một nhóm được coi là thiểu số phai có vi thể yếu trong zã hội. Ở một góc đô nhất định, định nghĩa của Francesco khiến cho mối lo ngại của các quốc gia giảm di, do phạm vi chủ thể được coi là người thiểu số thu hep lại. Định ngiấa trên đã được các tổ chức quốc té viên dẫn trong một số trường hợp; tuy nhiên, nó vẫn chưa nhận được sự chấp nhận.
của các quốc gia như là một định ngiĩa chung vé người thiểu sé trong luật quốc tế” ‘Mot thanh viên khác của Tiểu ban về chồng phân biệt đối xử va bão vệ người thiểu số của Liên hợp quốc la Jules Deschéness cho rằng người thiểu số Ja một nhôm công dân của một quốc gia, ít vẻ mặt số lượng và yếu vẻ vi thé trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng téc, tôn giáo và ngén ngữ ma tạo ra sử khác biết so với nhóm dân cư đa số, có một ý thức thống nhất, một đông cơ rõ rét trong việc sử dụng ý chí tập thé để tôn tai va đạt được mục.