phần Mở đầu, Kết thúc, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nghiên cứu được chia thành các chương như sau: Chương | : Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1. Bao điện tử 1. Thuật ngữ “Giải cứu nông sản” 1. Vai trò của báo điện tử với van đề Giải cứu nông sản Việt Chương 2: Thực trạng truyền thông về đề tài “Giải cứu nông sản Việt” trên các báo điện tử 17 2.
Giới thiệu về báo điện tử VnEpress, Nông nghiệp Việt Nam, Thanh niên 2. Tân suat, thời diém đưa tin trong các bài việt đê tai “Giải cứu nông sản Việt” trên báo điện tử 2. Nội dung thông tin trong các bài viết đề tài “Giải cứu nông sản Việt” trên báo điện tử 2. Hình thức thông tin trong các bài viết đề tài “Giải cứu nông sản Việt” trên báo điện tử 2.
Đánh giá ưu nhược điểm trong hoạt động truyền thông về đề tài “Giải cứu nông sản Việt” trên các báo điện tử 2. Ưu điểm trong hoạt động truyền thông về đề tài “Giải cứu nông sản Việt” trên các báo điện tử 2. Nhược điểm trong hoạt động truyền thông về đề tài “Giải cứu nông sản Việt” trên các báo điện tử Chương 3: Vai trò của báo điện tử trong hoạt động giải cứu nông sản và khuyến nghị nâng cao chất lượng hoạt động thông tin về đề tài giải cứu nông sản trên báo điện tử 3. Nhận diện vi trí, vai trò của báo điện tử trong hoạt động giải cứu nông sản 3.
Khuyến nghị nâng cao chất lượng hoạt động thông tin về đề tài giải cứu nông sản trên báo điện tử 18 PHẢN 2: NỘI DUNG CHUONG 1. MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA ĐÈ TÀI 1. Bao điện tử 1. Khái niệm Theo Luật báo chí (2016), báo điện tử được định nghĩa: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gôm báo điện tử và tạp chí điện tử”.
Mot sô khái niệm khác: “Báo điện tử (hay còn gọi là báo mạng, báo trực tuyến, báo Internet) là loại hình báo chí ra đời từ sự kết hợp giữa ứng dụng công nghệ thông tin với truyền thông đại chúng” [4, tr16] “Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web va phát hành trên mang Internet” [5, tr5] 1. Đặc trưng Có 5 đặc trưng làm nên sự khác biệt của báo điện tử so với các thé loại báo chí khác. Một là, tinh tức thoi. Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là mạng Internet, các nhà báo trực tuyến có thể nhanh chóng viết bài, gửi về tòa soạn thông qua hệ thống thư điện tử.
Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo có thé đưa tin cùng lúc với sự kiện đang diễn ra. Báo mạng điện tử cho phép nhà báo thường xuyên cập nhật thông tin. Nhà báo có thê đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí khác. Chính vì thế người ta còn gọi báo điện tử là loại hình báo chí phi định kỳ.
19 Hai là, tính da phương tiện. Báo mạng điện tử là loại hình báo chí đa phương tiện. Trên một tờ báo mạng hay trong một tác phẩm của báo điện tử có thể tích hợp cả báo giấy với chữ viết, báo phát thanh với file ghi âm, báo hình với các đoạn video. Nhờ vậy, báo điện tử có được sự sinh động và hấp dẫn hơn hăn các thể loại báo chí khác.
Ba là, khả năng siêu liên kết Báo mạng điện tử có khả năng liên kết vô cùng lớn nhờ vào các siêu liên kết (hyperlink), các từ khóa, web link, hồ sơ. Từ một bài báo, độc giả có thé dé dang tìm kiếm những thông tin liên quan thông qua các liên kết dé tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn về các vấn đề mình quan tâm. Khả năng liên kết của báo điện tử mở ra kho thông tin vô hạn cho độc giả. Bon là, tính tương tác.
Tính tương tác là đặc trưng nỗi bật của báo điện tử. Không dừng lại ở sự tương tác 1 chiều hay hai chiều giữa độc giả với tòa soạn, báo điện tử cung cấp cả sự tương tác đa chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, độc giả với nhân vật trong tác phẩm thông qua phan bình luận phía dưới tác phẩm. Nhờ vậy, báo điện tử trở nên gần gũi với công chúng hơn. Công chúng cũng có thé dé lại ý kiến, thông tin, thể hiện góc nhìn của mình về sự việc, nhân vật được dé cập ngay ngay dưới bài việt.
Nam là, khả năng lưu trữ và tìm kiêm thông tin Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ thông tin bài viết theo hệ thống qua khoa học với số lượng không 16. Bằng các thao tác tìm kiếm đơn giản, kết hợp với một số công cụ hỗ trợ như khoanh vùng thời gian đăng, kết hợp chuỗi từ khóa, lưu liên kết lại, đánh dấu đọc sau. độc giả có thể tìm đọc được các bài viết mong muốn vào bất kỳ thời gian nào. Trong phạm vi nghiên cứu của minh, tôi sử dụng khái niệm bdo điện tử chỉ loại hình báo chí hoạt động trên nền tảng Internet, được xây dựng dưới hình thức một trang 20 web với 5 wu thế đặc trưng: tinh tức thời, tính cập nhật; tính da phương tiện; tính tương tác; tính siêu liên kết và khả năng lưu trữ.
Boi khái niệm trên đã chỉ rõ các đặc điêm cả vê hình thức và nội dung của báo điện tử có ảnh hưởng quan trọng chỉ phối hoạt động thông tin của báo điện tử. Thuật ngữ “Giải cứu nông sản” 1. Nguồn gốc thuật ngữ “Giải cứu nông sản” bắt đầu được sử dụng trên các trang báo điện tử vào tháng 4/2015 trong các bài viết về hoạt động hỗ trợ tiêu thụ nông sản đang trong tình trạng rớt giá nghiêm trọng, thương lái không thu mua. Cụ thể, nông sản được nhắc tới ở thời điểm đây là dưa hấu của tỉnh Quảng Nam.
EB be XIN Genk XI: x | RE Facebook x _ | € 8 https://news.vn/a x @ |G HE Ung dung [J Facebook E61 Randall's ESL Cyber. WB YouTube A nunanganguyen|. ( Trang h fh Course: Danh sé DỊ Lim AMV don gj 16:47 10/04/2015 - Giải cứu nông sản ê: Sao không cởi khúc mắc trong sân nhà? chung tay u nông sản nông dân thoát khó trước mắt nhưng không thế thoát khỗ lâu dài. Anh: Ngoc Lan.
Nội dung thuật ngữ Giải cứu phân tích theo nghĩa chiết tự: “Giải” có nghĩa là “đi kèm theo dé đưa đến một noi nào đó” [17, tr61] 21 “Cứu” có nghĩa là “làm cho thoát khỏi môi đe dọa sự an toàn hoặc sự sông còn” [17, 18] “Giải cứu” có thé hiểu là hoạt động đi cùng dé đưa đối tượng nao đó thoát khỏi mối de dọa sự an toàn hoặc sự sông còn. Ban đầu, thuật ngữ “giải cứu nông sản” được hình thành từ phép an dụ cách thức. Nông sản đang trong tình trạng không được thu mua hoặc thu mua với mức giá thấp, mà người nông dân nếu bán nông sản với mức giá đấy sẽ không có lãi thậm chí bị lỗ, được gọi chung là tình trạng “nông sản rớt giá” hay “rớt giá nông sản”. Đây là tình trạng nguy hiểm đối với cả người nông dân và nông sản.
Bởi vậy, hoạt động tiêu thụ nông sản trong thời điểm này tương tự như cách thức giải cứu - đưa đối tượng nào đó thoát khỏi môi đe dọa dén sự an toàn hoặc sự sông còn. Bởi là một thuật ngữ hình thành từ phép ấn dụ, nên ban đầu khi sử dụng, các báo điện tử vẫn dùng ngoặc kép (“giải cứu”) khi sử dụng thuật ngữ này trong bài viết. Tuy nhiên, hiện nay, một số báo không còn dùng ngoặc kép khi sử dụng thuật ngữ này nữa. Điều này phan nào thé hiện mức độ phổ biến nghĩa “tiêu thụ nông sản rớt giá” của thuật ngữ “giải cứu nông sản” trong ngôn ngữ của người viêt cũng như cộng đông.
Trong khóa luận này, thuật ngữ “Giải cứu nông sản” được tiép cận cum với ý nghĩa là động từ chỉ hoạt động tiêu thụ nông sản hình thành trên điêu kiện cân là có xảy ra các vu rớt gid nông sản. Vậy, trong phạm vi khóa luận, thuật ngữ “Gidi cứu nông sản” dùng để chỉ các hành động thuộc 1 trong 2 nhóm: Nhóm 1: Các hành động có tác dụng ngăn tình trang rớt giá nông sản xảy ra trên tiền đề có nhắc tới một hoặc một số vụ rót giá nông sản khác như: Đưa ra chỉ dẫn, dự báo về tình trạng cung cầu loại nông sản từng rớt giá hoặc có kha năng rot giá trong tương lai, đưa ra hướng chăn nuôi, trồng trọt mới cho khu vực từng xảy ra rót giá nông sản. 22 Nhóm 2: Các hành động giúp tiêu thụ nông sản dang trong tinh trang rot giá. Vai trò của báo điện tử với van đề giải cứu nông sản Việt Sử dụng Internet, sử dụng các thiết bị kết nối internet dé tìm kiếm thông tin, đọc báo là xu hướng phổ biến hiện nay.
Báo điện tử có tam anh hướng rất lớn trong việc định hướng thông tin của công chúng về van dé giải cứu nông san. Với các đặc trưng đã được đề cập trước đó, báo điện tử có ưu thế vượt trội trong tác động tới nhận thức, hành động của nhóm đối tượng thuộc mắt xích cuối cùng trong chuỗi “giải cứu nông sản” — người tiêu dùng. Nếu xảy ra tình trạng rớt giá nông sản, tính tức thời giúp báo điện tử có thể là kênh thông tin đầu tiên đưa tin, đồng thời theo sát, cập nhật những diễn biến mới nhất của quá trình giải cứu nông sản. Trong cùng một tác phẩm báo chí, người đọc có thể nhìn thấy những hình ảnh nông san chat cao, có thé nhìn thấy người nông dân đẫm mồ hôi với ánh mắt lo lăng, với tiếng thở dài bất lực khi không tìm ra đầu ra cho nông sản của mình thông qua những bức hình sắc nét hay các khung hình đặc tả của video.
Bạn đọc có thê nhìn thấy những con số thống kê thiệt hại, thống kê thực trạng báo động của tình trạng rớt giá nông sản. Yếu tô đa phương tiện đưa câu chuyện giải cứu nông san trở nên gần gũi, sinh động hơn tới độc giả. Tính tương tác giúp báo điện tử có thể trở thành không gian ảo, nơi các chủ thể liên quan tới chủ đề giải cứu nông sản có thể tương tác bước đầu với nhau, hiểu, thông cảm, thấu hiểu nhau hơn.