CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1. Tổng quan về gây mê 1. Ý thức - Về phương diện sinh lý thần kinh người ta định nghĩa: “Ý thitc là sự nhận biết của một cá thể về bản thân và môi truong xung quanh `. Để đảm bảo cho sự tồn tại của ý thức (một trạng thái đặc biệt trong hoạt động của não bộ) có hai hoạt động chức năng quan trọng là: Sự thức tỉnh và sự đáp ứng (do các câu trúc dưới vỏ đảm nhiệm).
Sự tiếp nhận và nhận thức (chức năng của vỏ não). [37] - Biêu hiện lâm sàng của ý thức Thức tỉnh: tình trạng mở mắt tự nhiên, hoặc mở mắt khi đang ngủ mà có kích thích đánh thức cũng như có thé tự thức giấc. Đáp ứng: là các hoạt động có định hướng của cơ thê trả lời các kích thích từ bên ngoài. Các hình thức đáp ứng rất khác nhau ví dụ: người đang ngủ sẽ mở mắt khi có kích thích, các vận động chủ động có định hướng nhằm loại bỏ kích thích gây đau, các hoạt động phản xạ, hoặc đáp ứng băng ngôn ngữ, thực vật.
Nhận thức: khả năng hiéu các kích thích ngôn ngữ, nhận biết được các kích thích tri giác (các kích thích giác quan như âm thanh, hình ảnh. và kích thích cảm giác thân thể như đau, nóng, lạnh. - Cơ sở giải phẫu của ý thức: Ngày nay người ta cho rang cơ sở giải phẫu của ý thức gồm có: vỏ não, đôi thị, hệ thông lưới hoạt hoá lên thân não - Các tinh trạng ý thức trên lâm sàng. Trên lâm sàng người ta chia ý thức thành các mức độ nhu- sau: Tinh táo (normal walking state): La tinh trạng ý thức của người bình thường, trong đó các chức năng thức tỉnh nhận thức và đáp ứng còn nguyên vẹn, hoạt động chức năng của các giác quan hoàn toàn bình thường (điều kiện là không có tổn thương ngũ quan), người ta có thé ngủ rất sâu nhưng tự tỉnh dậy được hoặc tỉnh dậy khi có kích thích, khi tỉnh dậy chức năng nhận thức được hồi phục hoàn toàn bình thường.
Ngủ ga (drowsy state hay somnolence): Bệnh nhân luôn trong tinh trang buôn ngủ, ngái ngủ, giảm kha năng và thời gian thức tỉnh, khi gọi thì tỉnh dậy và nhận thức và đáp ứng đúng với các kích thích, nhưng sau đó lại ngủ ngay. Bệnh nhân cũng có thể tự tỉnh dậy được. Lú lan (confused state): La tinh trang sững so, bệnh nhân mat kha năng nhận thức va định hướng về bản thân (quên tuổi, quên tên mình.) về thời gian (không nhận biết được thời gian trong GVHD: TS. Nghiêm Thanh Tu HVTH: Nguyễn Hữu Vinh 14 ngày hoặc không nhận biêt được ngày tháng.) và về môi trường xung quanh (không nhận biết được mình đang ở đâu, không nhận ra người thân.) e Uám (stuporous state): Là tinh trạng bệnh nhân suy giảm ý thức nặng nề gần như hôn mê.
Kha nang thứ tỉnh, nhận thức và đáp ứng với các kích thích bên ngoài giảm đi rõ rệt. Bệnh nhân có thể còn có một vài cử động tự phát hoặc đôi khi còn thực hiện được một vài cử động theo mệnh lệnh đơn giản. Tình trạng hô hấp còn bình thường. e Hôn mê (coma): Tình trạng bệnh nhân mất hoàn toàn chức năng thức tỉnh, đáp ứng và chức năng nhận thức, bên cạnh đó còn có những rỗi loạn tim mạch hô hấp và thực vật kèm theo.
Các trạng thái lú lẫn, ngủ gà và u ám kể trên đợc gọi chung là giai đoạn tiền hôn mê. Hôn mê - Hôn mê là tình trạng mất ý thức, là một phản ứng tương đối đồng nhất của não bộ đối với các kích thích nội sinh hoặc ngoại sinh khác nhau như: thiêu ôxy, thay đôi độ pH, hạ đường huyết, roi loạn nước - điện giải cũng như đôi với các chat độc nội sinh và ngoại sinh. Bệnh nhân không còn những nhận thức và đáp ứng phù hợp với các tác nhân kích thích bên ngoài, rối loạn ngôn ngữ (không nói được và không hiểu được lời nói), không có các vận động chủ động có định hướng và có ý nghĩa của các cơ mặt, các cơ ở chi thé hoặc cơ thân, có thé có rối loạn chức năng sống và rối loạn thực vật. - Đánh giá các mức độ hôn mê trên lâm sàng a.
Danh gid theo độ Hôn mê độ I hay hôn mê nông (coma sopor) - Cơ chế bệnh sinh: do quá trình bệnh lý gây ức chế vỏ não lan rộng. - Lâm sàng: + Không thức tỉnh, giảm nhận thức, giảm hoặc mat đáp ứng chủ động với kích thích. + Phan xa: còn hat hơi, phan xạ đồng tử với ánh sáng, phản xạ nuốt giảm. + Rối loạn cơ vòng.
+ Chưa có rối loạn hô hấp và tim mạch. Có trường hợp bệnh nhân vật vã, dãy dụa, kêu la, mê sảng, người ta gọi là hôn mê thao thức (coma vigil). Hôn mê độ IT hay hôn mê vừa, hôn mê thực sự (coma confirmé): GVHD: TS. Nghiêm Thanh Tu HVTH: Nguyễn Hữu Vinh 15 - Cơ chế bệnh sinh: quá trình ức chế đã lan xuống gian não và não giữa.
- Lâm sàng: + Không thức tỉnh, giảm nhận thức, giảm hoăc mắt đáp ứng chủ động với kích thích. + Phản xạ: giảm, mat (dong tử với AS, giác mạc nuối, p.xa gân xương) + Rối loan cơ vòng. + Rối loạn điều hoà thân nhiệt (zăng). + Bắt đầu có rối loạn nhịp thở, rỗi loan tim mạch (nh mạch nhanh, nhỏ, huyết áp dao động).
+ Có thê thay biêu hiện co cứng mát vỏ não. + Không thức tỉnh, giảm nhận thức, giảm hoặc mat đáp ứng chủ động với kích thích (gọi. kích thích đau bệnh nhân không trả lời, không đáp ứng mở mat). + Phản xạ: mắt PX đồng tử với ánh sáng, còn phản xạ giác mạc + Dai tiêu tiện không tự chủ + Rồi loạn điều hoà thân nhiệt (thường tăng).
+ Có rỗi loạn nhịp thở như: thở kiểu Cheyne- Stokes, kiểu Kussmaul hoặc kiểu Biot. Rối loạn tim mạch như mạch nhanh, nhỏ, huyệt áp dao động. + Có thé thay bệnh nhân biểu hiện co cứng kiểu mat vỏ não. Hôn mê độ IIT hay hôn mê sâu (coma carus) - Cơ chế bệnh sinh: quá trình ức chế sâu sắc tiếp tục ảnh hưởng xuống các cau trúc bên dưới là câu não va bat dau ảnh hưởng đên chức năng hành não.
- Lâm sàng: + Bệnh nhân mất ý thức sâu sắc, không đáp ứng với mọi kích thích và mọi cường độ. + Mắt tất cả các phản xạ, đồng tử giãn. + Rối loạn cơ vòng (dam dé). + Rối loạn thần kinh thực vật nghiêm trong: tim đập yêu, huyết áp giảm, bệnh nhân xanh nhợt, roi loạn nhịp thở (thường thở kiêu that điêu hoặc thở ngáp), roi loạn thân nhiệt (thân nhiệt thường giảm), tăng tiét dom rãi + Có thể thấy duỗi cứng mắt não.
Nghiêm Thanh Tu HVTH: Nguyễn Hữu Vinh 16 Hôn mê độ IV hay hôn mê quá mức, hôn mê không hồi phục (coma dépassé) - Cơ chê bệnh sinh: giai đoạn nay quá trình bệnh ly ức chê rat nặng nê sâu sac tới hành não và cả tuy song. - Lam sang: + Rối loan hô hấp và tim mạch rat nặng né, bệnh nhân không còn tự thở được, cần hô hap hồ trợ, huyệt áp ha rat thap có khi không do được, tim đập rời rac, yêu ớt. + Mắt tất cả các phản xạ, đồng tử giãn rộng, toàn thân giá lạnh. + Nếu tồn thương não nặng né, không hôi phục được ta gọi là tình trạng chết não và chắc chăn bệnh nhân sẽ tử vong.
Khi đó bệnh nhân chỉ còn tôn tại nhờ các phương tiện kỹ thuật hồ trợ và nhờ thuôc trong một thời gian ngăn. Dánh gid mức đô rồi loạn ý thúc theo thang điểm Glasgow Bảng 1. Thang điểm Glasgow của Teasdale và Jenett (1978) Chỉ tiêu | Biểu hiện Điểm Đáp ứng | - Mở mắt tự nhiên 4 mở - Mở mắt khi gọi, khi ra lệnh 3 mắt - — Mở mat khi có kích thích đau 2 - Không mở mắt | - Van động dung theo mệnh lệnh 6 Dap ung | - Vận động thích hợp với kích thích (sờ vào chỗ bi k.thich) 5 vận - Dap ứng không thích hợp 4 động : , - Dap ứng kiêu co cứng mat vỏ 3 - Đáp ứng kiểu dudi cứng mat não 2 - Khong đáp ứng l Dap ứng | - Trả lời đúng câu hỏi 5 lời - Trả lời lẫn lộn, mat định hong 4 nói - Tra lời không phù hợp câu hỏi 3 GVHD: TS. Nghiêm Thanh Tu HVTH: Nguyễn Hữu Vinh 17 - Trả lời không rõ tiếng, không hiểu đợc 2 - Khong trả lời | Cộng: 15 diém Đánh giá mức độ hôn mê theo kết qua điểm Glasgow: - 15 điểm: bình thường.
- 9-14 điểm: rỗi loạn ý thức nhẹ. - 6 đến 8 điểm: rối loạn ý thức nặng. - 4 đến 5 điểm: hôn mê sâu - 3 điểm: hôn mê rất sâu, đe doa không hồi phục 1. Lịch sử gầy mê Kỹ thuật gây mê được phát triển trước hết bắt nguồn từ việc sử dụng thuốc mê bốc hơi và khí mê, tiếp theo là các thuốc tê để áp dụng trong gây tê vùng và tê tại chỗ, sau cùng là các thuốc mê tĩnh mạch, thuốc giảm đau trung ương va thuốc giãn cơ.
Sự khám phá về gây mê trong lĩnh vực ngoại khoa được đánh giá là một đột phá quan trọng về lịch sử phát triển của con người. Thuốc mê bốc hơi và khí mê - Thuốc mê hơi tim ra dau tiên đó là ether, quả that ether (thực sự là diethyl ether) đã được biết dau tiên vào năm 1540 do Valerius Cordus tìm ra, lúc ông mới 25 tuổi, ether cũng được biết trong lĩnh vực y học nhưng đã không được sử dụng như một thuốc mê, cho đến năm 1842 khi Crawford W. Long và William E. Clark dùng nó cho bệnh nhân của họ.
Tuy nhiên nó vẫn chưa được phô bién sự khám phá này. - Chloform được khám pha bởi Leubig, Guthrie và Soubeiran vào năm 1831. Được sử dụng đầu tiên bởi Holmes Coote vào năm 1947. Sau đó Sir James Simpson, một nhà Sản khoa đưa vào sử dụng trên lâm sàng để giảm đau trong chuyển dạ cho những bệnh nhân của Ông.
Sau này do Chloroform thường gây rối loạn nhịp tim, ức chế hô hấp, nhiễm độc gan trong và sau gây mê nên càng ngày những Nhà gây mê từ chối sử dụng. - Mặc dù khí N2O (nitrous oxide) được khám phá từ 1772 bởi Joseph Priestley nhưng mãi đến 1844 mới được xem như thuốc mê và vì có nhiều tai biến do gây thiểu oxy trong quá trình sử dụng để gây mê, thuốc này không được sử dụng cho đến 1868 Edmun Andrew đã dùng lại bang cách pha trộn với 20% oxy, khí mê này hiện nay còn được sử dụng pho biến va vẫn là một khí GVHD: TS.