CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH vực NGHIÊN cứu 1.1 Tổng quan về Bánh ít lá gai 1.1 Giới thiệu ve Bánh ít lá gai và thành phần nguyên liệu chính ỉ. ỉ Bánh ít ỉá gai Bánh ít lá gai là loại bánh đặc trưng của người dằn Bình Định, không chỉ vì hương vị thơm ngon, mà còn gắn với nhiều câu chuyện lịch sử, văn hóa xung quanh nó. Sau này, cách làm bánh lan rộng khắp vùng ven biển miền Trung, nhưng Bình Định vẫn là “cái nôi” của món bánh này, khiến mỗi người con Bình Định đi xa quê hương luôn nhớ về mỗi khi được thấy hình ảnh thân thuộc của chiếc bánh quê nhà. Khi đi chơi xa hay thăm người thân, người Bình Định cũng thường làm, hoặc mua vài ba chục bánh mang theo ăn dọc đường, hoặc để biếu, làm quà.1 Bánh ít lá gai Bình Định Nguyên liệu chính để tạo nên chiếc bánh ít bao gồm: lá gai, gạo nếp, đường, đậu xanh, dừa và lá chuối.
Còn nhân bánh tùy từng địa phương có thể dùng đậu xanh, đậu đen hoặc nhân dừa kết hợp với đậu xanh để tạo nên hương vị đặc trưng của chiếc bánh.2 Các nguyên liệu cơ bản của một chiếc Bánh ít lá gai Bánh ít lá gai là một trong những đặc sản truyền thống được UBND tỉnh quy hoạch, gắn vói phục vụ phát triển du lịch tỉnh nhà. Sản phẩm Bánh ít lá gai Bình Định cũng đã được bảo hộ nhãn hiệu, chứng nhận độc quyền của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Hiện nay, Bánh ít lá gai không chỉ có giá trị về văn hóa, lịch sử, là món ăn tinh thần mà nó còn mang lại hiệu quả kinh tế cho làng nghề, hộ, cơ sở sản xuất và tỉnh Bình Định nói chung. Kết quả phân tích đánh giá về khảo sát quy mô, quy trình công nghệ, năng suất, tiêu chuẩn chất lượng đối vói sản phẩm Bánh ít lá gai năm 2015 thuộc dự án Khoa học và công nghệ hỗ trợ phát triển các sản phẩm đặc trưng tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2015 [12, 28] cho thấy toàn tỉnh có 11 huyện, thị xã, thành phố đều có hộ (cơ sở) sản xuất Bánh ít lá gai nhưng chủ yếu tập trung ở các huyện Tây Sơn, Tuy Phước, Hoài Nhơn và thị xã An Nhơn.
Thị trường tiêu thụ chủ yếu trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và có 1 số xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Đức, Nhật. Doanh thu bình quân từ 2,5 - 5 triệu đồng/người/tháng. Quy trình sản xuất Bánh ít lá gai đa phần là thủ công, tuy nhiên, một số cơ sở đã đưa vào sử dụng máy móc ở 1 số công đoạn như: ép bột, trộn lá gai. Bánh ít lá gai Bình Định không sử dụng chất bảo quản, hạn sử dụng trong khoảng 3 ngày (mùa nắng thời gian ngan và mùa mưa thì ngược lại) [12, 28].2 Lá gai Nguyên liệu chính để làm nên Bánh ít lá gai đó chính là Lá gai.
Loại cây này được trồng rất nhiều ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Phân loại học thực vật cây Lá gai (Boehmeria nivea (L.) [21] Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Ưrticalesk Họ: Urticaceae Chi: Boehmeria Loài: Boehmeria nivea Tên khoa học: Boehmeria nivea (L. Theo Đỗ Tất Lợi [7], cây Lá gai còn gọi là trữ ma (Trung Quốc). Theo chữ Hán, sợi gai to là trữ; cây gai vừa dùng làm thuốc, làm bánh gai ăn vừa cho sợi dệt làm lưới đánh cá, nên gọi là trữ.
Cây sống lâu năm, có thể cao tói 1,5 - 2m. Lá lớn, mọc so le, hình tim, dài 7 - 15 cm, rộng 4-8 cm, mép có răng cưa,đáy lá hình tim hay hoi tròn, mặt dưới trắng vì có nhiều lông trắng, mặt trên có màu lục sẫm, có 3 gân từ cuống phát ra. Hoa đon tính cùng gốc. Hoa đực có 4 lá đài và 4 nhị.
Hoa cái có đài hợp chia làm 3 răng. Cụm hoa hình chùy hay hình cụm mọc ỏ nách lá, dài 3 - 8 cm, mỗi nhánh mang các cụm hoa chụm lại hay tách xa nhau. Các cụm hoa đực thường nhỏ vói 3-10 hoa, cụm hoa cái lớn hon và thường mang 10-30 hoa. Hoa đực nở trước và hoa thụ phấn nhờ gió.
Quả bế, hình cầu đến hình trứng, đường kính khoảng 1 mm, bao bọc bởi bao hoa, có lông, màu vàng nâu. Hạt có kích thước rất nhỏ khoảng 7000 hạt/g và có màu nâu đen.3 Lá gai Ở Việt Nam, chúng phân bố từ Bắc vào Nam bởi cây dễ trồng, dễ sống và dễ phát triển. Thân cây lá gai thường được sử dụng để làm sợi đan lưới hoặc dệt vải, lá thưòng được sử dụng để che biến Bánh ít lá gai. Theo Đông y, lá gai có tính ngọt, hàn, không độc, có tác dụng tả nhiệt, tán ứ, chữa đon độc, thông các chứng lâm (đai dắt), chữa sang lở, thông tiểu tiện, thường dùng trong các bài thuốc an thai, lợi tiểu, giúp cầm máu, làm lành vết thương hay làm thuốc an thần.
về thành phần hóa học, trong lá gai có chứa những họp chất phenolic có khả năng chống oxy hóa và diệt khuẩn cao, có lọi cho sức khỏe người sử dụng, đặc biệt là chlorogeneic acid - một loại ester của caffeic acid và quinic acid [33]. Chlorogeneic acid có tính chống oxy hóa mạnh gấp 10 lần vitamin E. Nó phong tỏa nhóm “tự do”, ngăn chặn sự oxy hóa lipoprotein LDL, là khởi điểm của xơ động mạch để dẫn tói cao huyết áp và nhồi máu cơ tim. Cũng như vitamin E, nên dùng chlorogeneic acid (lá gai) trước khi LDL bị oxy hóa.
Lá gai có các flavonoid khác như rhoifolin và apigenein. Các flavonoid này có tính chống oxy hóa yếu [33]. 3 Bột nếp Bột nep (Glutinous Rice Flour - Sticky Rice Flour) là bột được xay từ gạo nếp. Gạo nep (Oryza sativa var.
gỉutinosà) là một loại gạo được trồng chủ yếu ở khu vực Đông Nam Ả và Đông Ả, các hạt có màu đục. Gạo nếp không chứa gluten tiêu hóa (nghĩa là không chứa glutenin và gliadin), do vậy an toàn cho chế độ ăn không có gluten. Điểm phân biệt gạo nếp với các loại gạo khác là gạo nếp không chứa amylose hoặc chứa không đáng kể, ngược lại chứa hàm lượng amylopectin rất cao. Chính amylopectin tạo ra tính chất dính của hạt gạo nếp.
Amylose bao gồm các chuỗi liên kết a - 1,4 không phân nhánh của 200 - 300 gốc glucose. Do cấu hình a ỏ c - 1, các chuỗi này tạo thành một chuỗi xoắn với 6-8 gốc mỗi lượt. Màu xanh lam mà tinh bột hòa tan tạo ra khi thêm iodine (phản ứng iodine - tinh bột) là do sự hiện diện của các vòng xoắn này. Người ta phân biệt hai nhóm gạo bằng cách xét nghiệm hàm lượng amylose bằng phương pháp so màu Iodine dựa vào phản ứng ăn màu đối với dung dịch potassium iodide iodine (lg potassium iodide + 0,3g iodine trong 100 ml nước).
Không giống như amylose, amylopectin không hòa tan được, phằn nhánh. Trung bình, một trong 20 - 25 gốc glucose được liên kết với một chuỗi khác thông qua a - 1,6 liên kết, dẫn đến cấu trúc dạng cây mở rộng, giống như amylose - chỉ chứa một 9 nhóm OH anomeric (“đâu khử”). Phân tử amylopectin có thể chúa hàng trăm nghìn dư lượng glucose; khôi lượng của chúng có the nhiêu hơn 108 Da [1,26]. Semi-crystalline lamellae Level 3 Growth rings Starch granules Level 4 Level 5 Hình 1.5 Các mức độ câu trúc của tinh bột Tinh bột nêp chứa hàm lượng amylose thâp, 70 - 100% amylopectin.
Ngoài ra, trong nêp còn có các thành phân khác như protein,, lipid, vitamine, khoáng chât, .1 Thành phần dinh dưỡng có trong 100g bột gạo nếp Đon Hàm Đon Hàm STT Thành phần STT Thành phần vị lượng vị lượng 1 Nước g 10 13 Potassium mg 293 2 Năng lượng KCal 362 14 Sodium mg 3 3 Protein g 8,2 15 Zinc mg 2,29 4 Lipid g 1,6 16 Copper ^g 291 5 Glucid g 78,8 17 Selenium ^g 15,7 6 Cellulose g 0,6 18 Vitamin B1 mg 0,1 7 Tro g 0,8 19 Vitamin B2 mg 0,02 8 Calcium mg 12 20 Vitamin pp mg 1,7 9 Sắt mg 0,8 21 Vitamin B5 mg 0,295 10 Magnesium mg 18 22 Vitamin B6 mg 0,111 11 Manganese mg 1,14 23 Folate ^g 7 12 Phosphorous mg 148 ỉ. 4 Đậu xanh Đậu xanh là một thành phần quan trọng của nhân Bánh ít lá gai. Đậu xanh, hay còn gọi đỗ xanh (tiếng Anh: mung bean) là cây đậu có danh pháp hai phần Vigna radiata, kích thước hạt nhỏ (đường kính khoảng 2 - 2,5 mm). Ở Việt Nam, đậu xanh thường được sử dụng để làm xôi, làm các loại bánh: bánh đậu xanh, bánh ngọt, chè, hoặc được ủ cho lên mầm để làm thức ăn (giá đỗ).
Theo Đỗ Tất Lợi [7], đậu xanh vị ngọt, hơi tanh, tính hàn, không độc, bổ nguyên khí, thanh nhiệt mát gan, giải được trăm thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở loét, làm sáng mắt, nhuận họng, hạ huyết áp, mát buồng mật, bổ dạ dày, hết 11 đi tả, thích hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát, người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không rõ. Đậu xanh là loại thức ăn nhiều Kali (Potassium), ít Natri (Sodium). Người thường xuyên ăn đậu xanh và chế phẩm của nó giúp hạ huyết áp. Trong đậu xanh còn có thành phần hạ mỡ máu hữu hiệu, giúp cho cơ thể phòng chống chứng xơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp, đồng thời có công hiệu bảo vệ gan và giải độc.2 Thành phần dinh dưỡng có trong 100g Đậu xanh Đon Hàm Đon Hàm STT Thành phần STT Thành phần vị lượng vị lượng 1 Nước g 14 13 Potassium mg 1132 2 Năng lượng KCal 328 14 Sodium mg 6 3 Protein g 23,4 15 Copper Mg 880 4 Lipid g 2,4 16 Vitamin K Mg 9 5 Glucid g 53,1 17 Vitamin c mg 4 6 Cellulose g 4,7 18 Vitamin Bl mg 0,72 7 Tro g 2,4 19 Vitamin B2 mg 0,15 8 Calcium mg 64 20 Vitamin pp mg 2,4 9 Sắt mg 4,8 21 Vitamin B5 mg 1,91 10 Magnesium mg 270 22 Vitamin B6 mg 0,382 11 Zinc mg 1,1 23 Folate Mg 625 12 Phosphorous mg 377 24 Vitamin E mg 0,51 1.5 Dừa Dừa (Cocos nucifera) là một loài thực vật thằn gỗ, thành viên thuộc họ Cau (Arecaceae) và là loài duy nhất còn sống thuộc chi Cocos.
Dừa có mặt khắp nơi tại các vùng nhiệt đới ven biển và là một biểu tượng văn hóa nhiệt đới. Dừa cung cấp 12 thực phẩm, nhiên liệu, mỹ phẩm, thuốc dân gian và vật liệu xây dựng, cùng nhiều công dụng khác. Phần thịt bên trong của quả dừa chín, cũng như nước cốt dừa được vắt ra từ đây, là một phần quen thuộc trong khẩu phần của người dân sống tại vùng nhiệt đói và cận nhiệt đói.