mở đầu của quá trình nhân lên virus. Con ORF C1 (ORF2/ cap) mã hóa cho protein capsid, có chức năng liên quan đến cau trúc, độc lực của vi rút. Một số tác giả khác còn cho rằng có một ORF khác (ORF3), mã hóa cho protein liên quan đến quá trình apoptosis của vi-rút (Liu va ctv, 2005; Xiang và ctv, 2012). Ở giữa các gien có một vòng lặp gốc được coi như là nơi bắt đầu sự sao chép DNA của vi rút (Banda và ctv, 2007; Hattermamn va ctv, 2003).
Tuy nhiên, sự nhân lên của DuCV vẫn chưa được hiểu biết rõ. Dịch tễ học DuCV gay bệnh cho vịt từ những tuần tuổi đầu tiên với biểu hiện chậm lớn và rối loạn phát triển lông, có tỉ lệ lưu hành trên vịt có thé tới 84,2% (Hong va ctv, 2018). Có nhiều báo cáo về tình trạng nhiễm Circovirus trên nhiều giống vịt như Muscovy, Mulard, Mule ở nhiều nơi trên thé giới như Đài Loan, Hungary, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc (Cha và ctv, 2013). Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bùi Hữu Dũng (2015) thì DuCV đã được ghi nhận trên vịt tại các trang trại chăn nuôi vịt ở các tỉnh phía Nam Việt Nam với tỉ lệ nhiễm ghi nhận được là 10,&1 %.
Theo Trần Thị Hương Giang va ctv (2022) đã ghi nhận sự hiện diện của DuCV ở các tỉnh phía Bắc với tỉ lệ nhiễm 68,42%. DuCV được ghi nhận là có thé truyền ngang từ vịt bệnh sang vịt khỏe qua thức ăn nước uống, dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm mam bệnh và truyền dọc từ đản bố mẹ sang vịt con (Li và ctv, 2014). Vịt bị nhiễm DuCV có biểu hiện đặc trưng bởi tình trạng rụng lông, tình trạng cơ thé kém, chậm lớn (Hattermann và ctv, 2003) va gây ra sự suy giảm tế bào bạch huyết, tốn thương, hoại tử ở túi Farbacius. Sự suy giảm đáp ứng miễn dịch làm tăng nguy cơ đồng nhiễm DuCV với các tác nhân gây bệnh trên vit khác như Riemerella anatipestifer, Escherichia coli, Pasteurella multocida và vi rút viêm gan vit đã được báo cáo (Zhang va ctv, 2009).
Ngoai ra gan đây có nghiên cứu cũng đã phát hiện DuCV đồng nhiễm với Goose Parvovirus (GPV) tại Trung Quốc và Nhật bản (Awad A. Shehata và ctv, 2016). DuCV đã được phát hiện có ở gan, thận, lách, túi Fa, tuyến ức và trong các cơ quan này túi Fa là nơi có số lượng vi rút cao nhất vì đây là cơ quan chủ yếu cho sự nhân lên của DuCV (Sun va ctv, 2016; Xiang va ctv , 2015). Trong tự nhiên vi rút có kha năng lây nhiễm cho chim sé, mong biển, qua và chim sáo (Todd và ctv, 2007).
Ở loài thủy cầm hoang dã, người ta đã phát hiện ra hai loại circovirus khác nhau ở loài thiên nga (Halami va ctv, 2008). Đã có báo cáo về sự lây nhiễm chéo của circovirus trên các loài động vật khác nhau, trong đó có circovirus trên gà và bồ câu; trên heo (PCV2b) và bò (Li va ctv, 2010). Các nghiên cứu cua Ritchie va ctv (1991); Ritchie va Latimer (1995) đã chứng minh được circovirus tồn tai trong các chat bài tiết, phân của những con vet bị nhiễm bệnh và bụi trong không khí. Ngoài ra sự bai thải các hạt vi rút và tiêu hóa trực tiếp các vật nhiễm bệnh cũng có thể là đường lây nhiễm tự nhiên của vi rút.
Miễn dịch học Hiện nay trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu sâu về miễn dịch của DuCV. Khi vịt bị nhiễm DuCV, đáp ứng miễn dịch được hình thành gồm cả miễn dịch dịch thé và miễn dịch trung gian tế bao (Huang va ctv, 2018). Cũng theo Huang và ctv (2018) DuCV khi xâm nhiễm vào cơ thể vịt kích thích sản sinh các tế bào CD4+, CD&+, IFNy, IL-10. Trong một nghiên cứu khác đã phát hiện được kháng thể trung hòa ở ngày thứ 14 và kéo dai tới ngày thứ 35 (Zhaolong va ctv, 2020).
Protein capsid liên quan đến cấu trúc, độc lực của vi rút và đến đáp ứng miễn dịch của vật chủ (Hattermamn và ctv, 2003). Hiệu giá kháng thé trên nhóm gia cầm tự nhiễm cao hơn so với nhóm được gây nhiễm chủ động. Kháng thé bảo vệ này có khả năng chống lại sự xâm nhiễm của vi rút và giảm các triệu chứng lâm sang của bệnh (Woods va ctv, 2013). Tuy nhiên các nghiên cứu về miễn dịch của DuCV trên vịt còn khá là hạn chế do sự khó khăn trong việc nuôi cấy tại phòng thí nghiệm.
Triệu chứng Vịt bị nhiễm DuCV thường không có dấu hiệu lâm sang rõ rang hay triệu chứng đặc trưng. DuCV thường ảnh hưởng đến vịt con gây các triệu chứng như thể trạng kém, chậm lớn, hư hại bộ lông, đặc biệt lông ở phần lưng. Một số có tình trạng xuất huyết ở các trục lông (Hattermamn và ctv, 2003). Các triệu chứng này cũng được quan sát ở các loài động vật khác như chim sé, mong biển, qua và chim sáo (Todd D và ctv, 2007).
Một số bài báo cáo chỉ ra rằng nhiễm DuCV thường biéu hiện ở thé cận lâm sang hoặc biéu hiện các triệu chứng kết hợp với các tác nhân gây bệnh đồng nhiễm khác do sự suy giảm miễn dịch của vat chủ do vi rút gây ra (Banda A và ctv, 2007; Fringuelli và ctv, 2005). DuCV có thể khiến vịt mắc các bệnh khác và việc đồng nhiễm DuCV với Riemerella anatipestifer (RA), Pasteurella multocida, Staphylococcus aureus va DHV đã được ghi nhận (Zang va ctv, 2009). Ngoài ra việc đồng nhiễm với Goose parvovirus (GPV) gây nên hội chứng rụng lông trên vịt (Feather shedding syndrome) gây tình trạng rụng lông một cách nghiêm trọng trên vịt. Tỉ lệ mắc bệnh cao từ 20- 70%, tỉ lệ tử vong đến 40% (Yupeng Yang và ctv, 2020).
Việc đồng nhiễm giữa GPV và DuCV đã ức chế đáng ké sự tăng trưởng và phát triển của vịt, đồng thời gây teo và hoại tử các cơ quan miễn dịch ké cả gan. GPV và DuCV đồng thời khuếch đại khả năng gây bệnh ở vịt đồng nhiễm bệnh ( Liu và ctv, 2020). Bệnh tích Vịt bị nhiễm Circovirus thường không có bệnh tích rõ ràng. Xuất hiện tinh trạng viêm, hoại tử các cơ quan miễn dịch như lách, tuyến ức, túi Fabricius (Liu va ctv, 2010) va viêm tụy ở giai đoạn muộn (Zhu va ctv, 2019).
Phát hiện các điểm xuất huyết trên trục lông hoặc gốc chân lông (Hattermann va ctv, 2003), đồng thời nang Hình 1. Sự suy giảm và thoái hóa Hình 1. Hoại tử các nang ở các nang ở túi fabricius trên ngỗng tui fabricrus (Hong và ctv, 2018) nhiễm DuCV (Hong va ctv, 2018) Các nghiên cứu trước tập trung vào các biến đổi vi thể của vịt bị nhiễm Circovirus. Hong va ctv (2018) đã mô ta sự suy giảm các tế bào lympho va sự hoại tử ở túi fabricius (Hình 1.
Việc gây hỏng các cơ quan miễn dịch đặc biệt là ở túi fabricius dẫn đến việc suy giảm miễn dịch. Tuy nhiên mức độ suy giảm miễn dịch thì cần được nghiên cứu thêm. Chan đoán Hiện nay hau hết chân đoán DuCV phụ thuộc vào các kĩ thuật phân tử. Có nhiều phương pháp được đưa ra trong chân đoán DuCV.
Dé chan đoán chính xác DuCV cần phải kết hợp việc tìm hiểu thông tin về quá trình bệnh, dấu hiệu lâm sảng, bệnh tích và điều không thể thiếu là thông tin về tình hình bệnh trong trang trại chăn nuôi và vùng chăn nuôi lân cận. Việc phối hợp chan đoán lâm sàng và thực hiện các ki thuật xét nghiệm DuCV là hết sức cần thiết dé nâng cao hiệu quả trong việc phát hiện bệnh, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Các phương pháp cận lâm sàng phổ biến nhất đề chan đoán DuCV là PCR, Dot-blot hybridization (DBH), real-time PCR, nested PCR, in situ hybridization (ISH), indirect enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA). Phương pháp PCR thông thường va DBH được Todd va ctv (2002) đã sử dung dé chân đoán DuCV.
Cũng dùng phương pháp PCR Liu và ctv (2020) sử dụng dé phát hiện DuCV ở vùng phía tây nam của Trung quốc ở các năm 2018 và 2019. PCR dùng đoạn mỗi chuẩn và quá trình luân nhiệt để khuếch đại DNA vi rút. Sản phẩm của PCR có thể sử dụng để xác định trình tự và phân loại vi rút. Real time PCR là phương pháp cải tiến từ PCR, được dùng dé phát hiện và có thé định lượng RNA/DNA của vi rút ở nồng độ thấp.
Sử dụng phương pháp real time PCR chân đoán DuCV thì độ nhạy so với PCR thông thường cao hơn (Fringuelli và ctv, 2005). Phương pháp ELISA trong chân đoán DuCV là sử dụng kháng nguyên (protein cap) dé phát hiện kháng thé kháng vi rút trong huyết thanh. Phương pháp iELISA rất hữu ích cho việc chan đoán DuCV từ huyết thanh và điều tra dịch té (Liu va ctv, 2010). Vì các phương pháp trên không chân đoán phân biệt được các serotype của DuCV1 và DuCV2 nên Li và ctv (2014) đã sử dung duplex PCR dé chân đoán phân biệt hai serotype nảy.
Các bệnh thường nhiễm ghép với DuCV trên vịt Sự suy giảm đáp ứng miễn dịch khi nhiễm DuCV làm tăng nguy cơ đồng nhiễm với các tác nhân gây bệnh trên vịt khác như Riemerella anatipestifer, Escherichia coli, Pasteurella multocida va DHV đã được báo cao (Zhang và ctv, 2009). Theo Yang va ctv (2020) nam 2017 tai Trung Quéc da bung phat mét dot dich trên vit Cherry vally. Vit có triệu chứng rụng lông, thé trạng kém. Lay mẫu xét nghiệm thi phát hiện sự đồng nhiễm giữa NGPV và DuCV với tỉ lệ đồng nhiễm giữa hai vi rút là hơn 70%.
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Hàn Quốc thì phát hiện sự đồng nhiễm giữa Rimemella anatipestifer, Salmonella và DuCV giao động từ 1,4-5,4% (Cha va ctv, 2013). Năm 2008, Zhang va ctv đã báo cáo su đồng nhiễm của DuCV với các mầm bệnh khác tại tỉnh Shangdong, Trung Quốc. Với tỉ lệ nhiễm đơn và đồng nhiễm với các tác nhân khác là DHV-I (25,5% vs. Tình hình nhiễm DuCV ở Việt Nam và trên thế giới Năm 2005, Frieguelli và ctv đã áp dụng kĩ thuật RT-PCR đề chân đoán DuCV ở các trang trại tại Hungary.
Theo đó, tỉ lệ nhiễm được ghi nhận là 85/101 mẫu (84%), và tiếp đó giải trình tự và so sánh với chủng DuCV ở Đức thì tỉ lệ tương đồng đến 96,6%. 10 Sau đó Cha và ctv (2014) đã tiến hành khảo sát tỉ lệ đồng nhiễm giữa DuCV, Riemerella anatipestifer, Salmonella trên vit tại các trang trai ở Hàn Quốc. Kết quả ghi nhận được là tỉ lệ dương tính với DuCV đạt 21,8% (32/147), trong đó tỉ lệ nhiễm một mình DuCV là 10,9% (16/147), tỉ lệ nhiễm ghép với Riemerella anatipestifer và Samonella lần lượt là 4,1% (6/147) và 5,4% (8/147), tỉ lệ nhiễm cả ba chiếm tỉ lệ 1,4% (2/147). Tại Việt Nam năm 2016, Bùi Hữu Dũng và ctv đã có đề tài nghiên cứu đầu tiên về DuCV tại các trang trại phía Nam Việt Nam.