Chương 1: Thế giới quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán với 5 đề mục. Tác giả trình bày quan niệm cổ xưa về trời đất và con người qua truyện thần thoại, cổ tích của người Tày - Nùng. Từ đó quy nạp hệ ý thức bằng các hình thức tín ngưỡng nguyên thủy pha trộn với tôn giáo du nhập từ nhiều nơi: Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo phù hợp với tầng lớp nông dân Tày. Trong các mục tiếp theo tác giả liệt kê và khảo tả một số loại hình văn hóa dân gian: ngày hội ngày tết truyền thống, tục lệ cưới xin, sinh đẻ, ma chay, cúng giỗ, ăn sinh nhật, làm nhà, ăn mừng nhà mới.
Chương 2: Văn học nghệ thuật truyền thống gồm 6 đề mục. Tiếng nói, chữ viết là điều kiện tiên quyết hình thành nên các đề mục sau như: thành ngữ, tục 15 c ngữ, ca dao, cổ tích thần thoại, thơ ca cổ truyền, giới thiệu một số nhà nho Tày trước cách mạng tháng 8, cuối chương 2 là mục: nghệ thuật trang trí, nhạc múa, mục này tác giả còn viết khiên cưỡng, sơ lược. Phần 3: Khái quát về văn hóa Tày Nùng sau cách mạng tháng tám gồm 7 nội dung chính: - Tư tưởng khoa học chủ nghĩa Mác-Lênin tạo ra cách làm chủ tập thể. - Lớp người Tày - Nùng mới ra đời nêu cao chủ nghĩa anh hung cách mạng.
- Cách tổ chức đời sống và quan hệ giữa người với người. - Cấu trúc gia đình mới với các thành phần tộc người cùng chung sống dưới mái nhà chung. - Khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật trở thành nhân tố không thể thiếu trong thôn, bản. - Truyền thống văn hóa tốt đẹp của ông cha được khai thác, phổ biến.
- Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ngày càng tiến bộ về nội dung và hình thức. Cuốn văn hóa Tày - Nùng đề cập tương đối toàn diện về lịch sử, xã hội, phong tục, tập quán… của người Tày- Nùng, đặc biệt rất có ích như một tài liệu tham khảo. Ngoài ra một số bài viết mô tả với cảm nhận khác nhau như: Vi Quốc Bảo (1971) viết dân ca đám cưới Tày - Nùng: Văn hóa các dân tộc trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật (số 3). Hoặc Lợi Chung (1993) đề cập tới âm nhạc với không gian ban ngày ở bản Tày, Nùng trên tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật (số 1).
Các công trình nghiên cứu âm nhạc dân gian - Điển hình là cuốn Dân ca Tày của nhà nghiên cứu âm nhạc Hoàng Tuấn, dày 166 trang do nhà xuất bản âm nhạc in, phát hành năm 2000. Là người làm công tác giảng dạy lý luận tại trường Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc, Nhạc viện Hà Nội, bản thân là người Tày nên nhạc sĩ Hoàng Tuấn dành nhiều thời gian, công sức tiến hành khảo sát, xây dựng mô hình âm nhạc dân gian Tày. Cuốn sách chia làm 5 chương: 16 c Chương 1: Đại cương về người Tày. Chương 2: Ca hát không có nhạc đệm.
Chương 3: Hát giao duyên - lượn slao báo. Chương 4: Ca cúng lễ hát then. Chương 5: Nhạc khí - nhạc múa. Đây là cuốn sách nghiên cứu toàn diện theo góc độ âm nhạc dân tộc học, từ chương 1 tới chương 5 tác giả trình bày như không tuân theo một cấu trúc, nhưng xem kỹ cho thấy đây là bố cục hợp lý khi nội dung lớn, tính khái quát cao, tác giả đã khảo sát trong không gian rộng từ Cao Bằng tới Quảng Ninh, tại các vùng cư trú dân cư Tày vùng Đông Bắc Việt Nam.
Trong sách ví dụ về làn điệu, lối hát trình bày dễ hiểu, cho thấy người viết có trình độ hiểu biết sâu sắc dân ca Tày. - Tác giả Nông Thị Nhình với hai cuốn sách: + Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày- Nùng -Dao Lạng Sơn dày 235 trang do nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in năm 2000. + Nét chung và nét riêng của âm nhạc trong diễn xướng then Tày - Nùng dày 279 trang do Viện âm nhạc in năm 2004. - Dân ca đám cưới Tày- Nùng do Nông Minh Châu viết năm 1973 dày 130 trang, tác giả tập trung phần Thơ lẩu (hát đám cưới) với nhiều nội dung phong phú.
- Cuốn Lượn Cọi Tày Nùng của Cung Khắc Lợi, Lê Bích Ngân, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1987. Cuốn sách giới thiệu một số đoạn lượn cọi được sưu tầm và dịch ra tiếng Việt của hai tác giả với khoảng 1000 câu. - Cuốn Lượn Cọi do Lục Văn Pảo sưu tầm - phiên âm - dịch và giới thiệu dưới dạng song ngữ (Tày - Quốc ngữ), Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1994. Cuốn sách dày 647 trang với tổng số 21 bài dưới dạng song ngữ miêu tả về trình tự các cung lượn của người Tày.
Những công trình khác 17 c Điển hình là cuốn sách Văn hóa tín ngưỡng Tày Nùng, do Viện nghiên cứu Văn hóa dân gian ấn hành năm 1997 dày 276 trang. Đây là công trình nghiên cứu công phu nhất về văn hóa tín ngưỡng Tày Nùng ở Việt Nam do PGS. Vũ Ngọc Khánh chủ biên cùng tập thể các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia. Năm 2004, cuốn sách Bản sắc và Truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn dày 438 trang do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản, đây là loại sách tổng hợp các tham chiếu về văn hóa học, dân tộc học, tín ngưỡng tôn giáo, xã hội học cùng nhiều ngành khác.
Nội dung trình bày tạo nên lượng thông tin khoa học lớn, tập trung giới thiệu tổng quát tỉnh Bắc Kạn, được chuẩn bị công phu nên cuốn sách đã tạo ra diện mạo rõ ràng nhìn từ nhiều góc độ khoa học xã hội và nhân văn. Như vậy, tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ của người Tày đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới các góc độ và mức độ khác nhau ở nhiều công trình nghiên cứu. Trong đó, hướng tiếp cận nổi bật là nhiều tác giả nhấn mạnh đến vị trí vai trò của ông/ bà Then, coi Then và những làn điệu dân ca trong Mo như một hình thức diễn xướng dân gian, có chức năng chữa bệnh hoặc mang lại sự an bình, niềm tin và sự lạc quan trong đời sống lao động thường nhật. Mặt khác, những công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu tập trung vào lĩnh vực ngữ văn, văn hóa dân gian, âm nhạc dân gian Tày nói chung.
Chưa thấy đề cập chi tiết, tỉ mỉ hệ thống làn điệu, lối diễn xướng, đặc biệt đưa ra những biện pháp bảo tồn giá trị nghệ thuật dân ca Tày ở huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Hơn nữa giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về bản sắc, văn hóa của dân tộc mình và các em thêm yêu quê hương mình, đất nước mình và mỗi học sinh luôn phát huy, giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa của các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Tiểu kết chương 1 18 c Văn hóa Tày và nhất là đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó, các làn điệu dân ca, đặc biệt là nghi lễ Then và Mo của người Tày thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học, trong đó có một số là người Tày nghiên cứu về người Tày.
Các tác giả đều nhấn mạnh vị trí và ý nghĩa của các nghi lễ qua các làn điệu dân ca trong đời sống văn hóa Tày và có hướng tiếp cận thiên về hình thức diễn xướng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi một mặt ủng hộ tính hữu ích của việc xem xét các nghi lễ dân ca của người Tày, đặc biệt là làn điệu Then và Mo (cũng như cả một số nghi lễ khác của các tộc người khác, ví dụ như nghi lễ lên đồng.), nhưng mặt khác cũng muốn nhấn mạnh thêm khía cạnh an ninh con người, nhất là an ninh về sức khỏe và kinh tế trong những quan niệm và thực hành nghi lễ giải hạn qua dân ca của người Tày. Chúng tôi nhấn mạnh rằng nghi lễ giải hạn không phải là nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, nhưng lại đang là nghi lễ rất phổ biến và có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống của cộng đồng người Tày ở địa bàn huyện Pác Nặm. Nghi lễ giải hạn của người Tày không chỉ là sự thể hiện những giá trị văn hóa tộc người của người Tày mà còn là một cách ứng phó của con người trước những rủi ro, bất an về sức khỏe và kinh tế.
19 c Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA NGHI LỄ DÂN TỘC TÀY HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 2. Những quan niệm của người Tày Pác Nặm liên quan tới tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Then của dân tộc Tày 2. Quan niệm về vũ trụ Người Tày Pác Nặm quan niệm vũ trụ có 5 tầng. Thiên đường thượng giới là tầng cao nhất, gọi là mướng phạ.
Đây là tầng của Ngọc Hoàng Thượng Đế và mường thiên đường - nơi hồn ma của loại người khi chết sẽ đến. Thứ hai, tầng không gian vũ trụ bao la, gọi là mường bôn, là mường của mây gió trời xanh, hồn ma chết vô gia cư. Thứ ba, tầng thế gian - mặt đất, tầng dành cho con người và muôn loài sinh sống. Thứ tư, tầng dưới nước, xứ ấy là miền do Long Vương, thủy thần quản lý.
Các thần nơi thủy cung thường lên mặt đất để rình bắt hồn vía của những người con trai, con gái đẹp đi làm bạn tình. Tầng cuối, nằm sâu dưới đất là tầng âm phủ. Khi sống, nếu ai đó làm điều xấu, điều ác, hại nhân thì khi chết sẽ bị đày xuống âm phủ, không có điều kiện để đậu thai, tái sinh được nữa. Quan niệm về ma (phi), vía (khoăn), số phận (thổ), tướng mạo (mình) Quan niệm về ma Ma là hiện tượng siêu nhân, vô hình do ý thức con người tạo ra.
Người Tày Pác Nặm quan niệm có 8 tập hợp ma, thứ tự từ cao xuống thấp. Thứ nhất: hệ ma trên trời (Ngọc Hoàng Thượng Đế). Hệ này là ma có quyền uy, phép thuật cao nhất, ở trên thiên đường, nhìn thấy khắp nơi và biết mọi việc ở thế gian vũ trụ. Ngọc Hoàng Thượng Đế là vua của thế hệ ma trên trời.
Ngọc Hoàng có lãnh thổ là vũ trụ bao la, đất đai, sông núi. Ngọc Hoàng Thượng Đế không những là vua của thế hệ ma trên trời mà là vua của tất cả các loại ma quỷ.