Khảo Sát Thực Trạng Báo Cáo ADR Trong Kinh Doanh Thuốc Giai Đoạn 2014-2015

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ khảo sát thực trạng báo cáo ADR tại đơn vị kinh doanh thuốc giai đoạn 2014-2015, phân tích chi tiết và đánh giá hiệu quả.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2016

73
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. Khái quát về Cảnh giác dược và vị trí của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác dược

2.1. Khái quát về Cảnh giác dược

2.2. Hoạt động Cảnh giác dược ở Việt Nam

2.3. Vị trí của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác dược

3. Báo cáo ADR và trách nhiệm của ĐVKDT

3.1. Tầm quan trọng của báo cáo ADR

3.2. Trách nhiệm của ĐVKDT trong báo ADR

3.3. Các quy định báo cáo ADR đối với ĐVKDT

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu

4.2. Mục tiêu nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

4.3. Thu thập số liệu

4.4. Nội dung nghiên cứu và các chỉ số nghiên cứu

4.5. Thời hạn gửi báo cáo

4.6. Đặc điểm của báo cáo

4.7. Thay đổi số lượng báo cáo dưới tác động quản lý và truyền thông nguy cơ

4.8. Phương pháp xử lý số liệu

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Số lượng và tỷ trọng báo cáo ADR theo năm

5.2. Số lượng báo cáo theo từng tháng và thay đổi xu hướng báo cáo trong năm

5.3. Thời gian gửi báo cáo

5.4. Thời gian từ ngày nhận được thông tin về ADR đến ngày báo cáo

5.5. Thời gian từ khi ĐVKDT nhận được thông tin về ADR đến khi Trung tâm DI & ADR nhận được báo cáo

5.6. Đặc điểm của báo cáo

5.7. Tỷ lệ ADR được báo cáo trùng lặp giữa ĐVKDT và CSKCB

5.8. Người gửi báo cáo

5.9. Cơ cấu phân loại báo cáo

5.10. Phân loại báo cáo mức độ nghiêm trọng

5.11. Các thuốc được báo cáo nhiều nhất

5.11.1. Phân loại theo nhóm thuốc (ATC bậc 1)

5.11.2. Phân loại theo họ dược lý (ATC bậc 3)

5.11.3. Phân loại theo hoạt chất cụ thể

5.12. Phân loại báo cáo theo đánh giá quan hệ nhân quả

5.13. Truyền thông nguy cơ

5.13.1. Số lượng báo cáo trước và sau khi có quyết định quản lý và truyền thông nguy cơ của một số chế phẩm có nghi ngờ về an toàn

5.13.2. Số lượng báo cáo theo từng tháng của một chế phẩm được quản lý và truyền thông nguy cơ nhiều nhất (Quinvaxem)

5.13.3. Hoạt động báo cáo ADR liên quan đến Quinvaxem của các ĐVKDT giai đoạn 2012-2015

5.13.4. So sánh hoạt động báo cáo ADR liên quan đến Quinvaxem của ĐVKDT và CSKCB

5.14. Tính cấp thiết của đề tài

5.15. Kết quả chính của đề tài

5.16. Phương pháp nghiên cứu

6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Báo cáo ADR và kinh doanh thuốc

Báo cáo ADR là một phần quan trọng trong hệ thống Cảnh giác dược, giúp đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc. Trong giai đoạn 2014-2015, việc báo cáo ADR từ các đơn vị kinh doanh thuốc (ĐVKDT) tại Việt Nam còn hạn chế. Theo thống kê, số lượng báo cáo từ ĐVKDT thấp hơn nhiều so với các cơ sở khám chữa bệnh (CSKCB). Điều này cho thấy sự thiếu đồng đều trong trách nhiệm báo cáo giữa các bên liên quan. Tình hình báo cáo ADR cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả quản lý thuốc và đảm bảo an toàn cho người bệnh.

1.1. Tầm quan trọng của báo cáo ADR

Báo cáo ADR giúp phát hiện và ngăn ngừa các phản ứng có hại của thuốc, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe. Theo WHO, ADR là phản ứng độc hại không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng. Việc báo cáo kịp thời và đầy đủ các ADR giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí điều trị. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc báo cáo từ các đơn vị kinh doanh thuốc còn chưa được chú trọng, dẫn đến thiếu hụt thông tin quan trọng trong hệ thống Cảnh giác dược.

1.2. Trách nhiệm của ĐVKDT trong báo cáo ADR

Các đơn vị kinh doanh thuốc có trách nhiệm báo cáo tất cả các phản ứng có hại liên quan đến thuốc do họ sản xuất hoặc phân phối. Theo Hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác dược, ĐVKDT cần cập nhật thông tin về an toàn thuốc và báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAEs) kịp thời. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự tham gia của ĐVKDT trong hệ thống báo cáo còn hạn chế, cần có biện pháp thúc đẩy để đảm bảo trách nhiệm này được thực hiện đầy đủ.

II. Thực trạng báo cáo ADR giai đoạn 2014 2015

Thực trạng báo cáo ADR trong giai đoạn 2014-2015 cho thấy sự chênh lệch lớn giữa số lượng báo cáo từ các đơn vị kinh doanh thuốccơ sở khám chữa bệnh. Theo số liệu từ Trung tâm DI & ADR Quốc gia, chỉ có 640 báo cáo từ ĐVKDT so với 7727 báo cáo từ CSKCB. Điều này phản ánh sự thiếu tích cực của các ĐVKDT trong việc tham gia hệ thống báo cáo. Tình hình báo cáo ADR cần được cải thiện thông qua các biện pháp quản lý và truyền thông hiệu quả.

2.1. Số lượng và đặc điểm báo cáo ADR

Trong giai đoạn 2014-2015, số lượng báo cáo ADR từ các đơn vị kinh doanh thuốc chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số báo cáo. Các báo cáo chủ yếu tập trung vào các thuốc có nguy cơ cao như Quinvaxem. Đặc điểm của các báo cáo này thường liên quan đến các phản ứng nghiêm trọng như sốc phản vệ hoặc tử vong. Việc phân tích các báo cáo này giúp xác định các thuốc cần được giám sát chặt chẽ hơn.

2.2. Thời gian và quy trình báo cáo

Thời gian từ khi nhận được thông tin về ADR đến khi gửi báo cáo đến Trung tâm DI & ADR Quốc gia thường kéo dài, làm giảm hiệu quả của hệ thống báo cáo. Các đơn vị kinh doanh thuốc cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình báo cáo để đảm bảo thông tin được cập nhật kịp thời. Việc rút ngắn thời gian báo cáo sẽ giúp nâng cao hiệu quả của hệ thống Cảnh giác dược.

III. Quản lý ADR và cải thiện hệ thống báo cáo

Quản lý ADR đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn thuốc. Trong giai đoạn 2014-2015, các biện pháp quản lý và truyền thông nguy cơ đã được áp dụng để cải thiện tình hình báo cáo ADR. Tuy nhiên, sự tham gia của các đơn vị kinh doanh thuốc vẫn còn hạn chế. Cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn để thúc đẩy trách nhiệm báo cáo và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo ADR.

3.1. Các quy định báo cáo ADR

Các quy định báo cáo ADR đối với đơn vị kinh doanh thuốc đã được cụ thể hóa trong Hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác dược. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này còn chưa nghiêm ngặt. Cần có sự giám sát chặt chẽ hơn từ các cơ quan quản lý để đảm bảo các ĐVKDT tuân thủ đầy đủ các quy định về báo cáo ADR.

3.2. Truyền thông nguy cơ và cải thiện báo cáo

Truyền thông nguy cơ là một công cụ hiệu quả để nâng cao nhận thức về ADR và thúc đẩy việc báo cáo. Trong giai đoạn 2014-2015, các chiến dịch truyền thông đã được triển khai để cải thiện tình hình báo cáo ADR. Tuy nhiên, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các bên liên quan để đảm bảo hiệu quả của các chiến dịch này.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ khảo sát thực trạng báo cáo adr của đơn vị kinh doanh thuốc giai đoạn 2014 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sự có mặt của nhiều thuốc mới đã cải thiện đáng kể chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Tuy nhiên, mặt trái của thuốc - phản ứng có hại của thuốc (adverse drug reaction - ADR) vẫn đang là vấn đề nổi cộm có tính chất phổ biến. Ở một số quốc gia trên thế giới, phản ứng có hại của thuốc nằm trong nhóm 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân, ngoài ra ADR còn kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị [19,27]. Trong thực hành, để quản lý và phòng tránh các ADR, có nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Trong đó, báo cáo ADR là cách tiếp cận cơ bản nhất, góp phần đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [12,13]. Trên thực tế, hoạt động này chỉ thực sự hiệu quả khi có sự tham gia tích cực của nhiều đối tác khác nhau trong hệ thống y tế. Trong đó, các đối tác chính báo cáo ADR gồm có các cơ sở khám, chữa bệnh, đơn vị kinh doanh thuốc và người bệnh [14]. Tại Việt Nam, do chưa có cơ sở pháp lý để người bệnh báo cáo các ADR, người báo cáo chính vẫn là cơ sở khám, chữa bệnh và đơn vị kinh doanh thuốc.

Mặc dù vậy, hai đối tác này chưa chia sẻ đồng đều trách nhiệm về báo cáo ADR. Theo thống kê của Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc trong năm 2014, số lượng báo cáo ADR gửi từ các đơn vị kinh doanh thuốc thấp hơn rất nhiều so với từ cơ sở khám, chữa bệnh (640 báo cáo so với 7727 báo cáo) [48]. Kể từ khi Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc (Trung tâm DI & ADR Quốc gia) được thành lập vào năm 2009, nhiều nghiên cứu về hoạt động báo cáo ADR của cơ sở khám, chữa bệnh đã được thực hiện [3,4]. Trong khi đó, chưa có một nghiên cứu nào tập trung vào hoạt động báo cáo ADR của các đơn vị kinh doanh thuốc.

Ngày 01/6/2015, Hướng dẫn Quốc gia về Cảnh giác dược được Bộ Y tế được ban hành kèm Quyết định số 2111/QĐ-BYT đánh dấu một bước tiến quan trọng đối với thực hành Cảnh giác dược tại Việt Nam. Đặc biệt, trong hướng dẫn này, vị trí, vai trò và chức năng của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống đã được mô tả rõ ràng [1]. 2 Trong bối cảnh đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát thực trạng báo cáo phản ứng có hại (ADR) của đơn vị kinh doanh thuốc tại Trung tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn 2014-2015” với mục tiêu: Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của các đơn vị kinh doanh thuốc tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn 2014-2015. Khái quát về Cảnh giác dược và vị trí của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác dược 1.

Khái quát về Cảnh giác dược Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO), Cảnh giác dược (Pharmacovigilance) là: “Môn khoa học và những hoạt động liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác dụng có hại hoặc bất kỳ một vấn đề nào khác liên quan đến thuốc” [18]. Cảnh giác dược được xem là một trong những thành phần chủ đạo của hệ thống giám sát, sử dụng thuốc trên lâm sàng và các chương trình y tế công cộng [25]. Nhìn chung, hoạt động Cảnh giác dược tập trung vào bốn mục tiêu chính: - Cải thiện chăm sóc bệnh nhân và an toàn trong mối liên quan sử dụng thuốc với can thiệp của điều trị và hỗ trợ điều trị trên người bệnh. - Cải thiện sức khỏe cộng đồng và đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc.

- Góp phần đánh giá lợi ích, nguy cơ, hiệu quả và độ an toàn của thuốc, khuyến khích sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả hơn (bao gồm cả tính kinh tế). - Thúc đẩy sự hiểu biết, giáo dục và đào tạo trên lâm sàng trong Cảnh giác dược và tuyên truyền hiệu quả tới cộng đồng [17-19]. Hoạt động Cảnh giác dược ở Việt Nam Hoạt động Cảnh giác dược đã được triển khai tại Việt Nam từ năm 1994 trong khuôn khổ dự án SIDA “Hỗ trợ hệ thống quản lý Dược” do Chính phủ Thụy Điển tài trợ. Tới năm 1999, do đạt đủ số lượng báo cáo ADR tự nguyện, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Chương trình giám sát thuốc toàn cầu Uppsala của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO-UMC).

Năm 2009, sự ra đời của Trung tâm DI & ADR Quốc gia đặt tại Trường Đại học Dược Hà Nội đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động Cảnh giác dược tại Việt Nam khi gắn kết quản lý nhà nước về Cảnh giác dược với đào tạo và nghiên cứu. Tới năm 2011, Trung tâm DI & ADR khu vực phía nam tiếp tục được thành lập tại Bệnh viện Chợ Rẫy để quản lý báo cáo ADR được kịp thời 4 và triệt để hơn. Nhìn chung, tính tới thời điểm hiện tại, cơ chế hoạt động của hệ thống Cảnh giác dược tại Việt Nam có thể được tóm tắt trong hình 1. Hành động Đơn vị Cá nhân -Cơ sở khám bệnh, chữa -Người bệnh, Phát hiện, theo dõi và báo cáo bệnh cộng đồng BÁO các vấn đề liên quan đến tính an -Đơn vị kinh doanh thuốc -Nhân viên y tế toàn của thuốc -Chương trình tiêm chủng -Cán bộ CGD và các Chương trình y tế QG khác Cấp độ cơ sở -Thu thập, đánh giá quan hệ -Khoa Dược, Đơn vị nhân quả giữa biến cố bất lợi và Thông tin thuốc, Hội thuốc nghi ngờ đồng thuốc và điều trị PHÁT -Cập nhật thông tin an toàn thuốc của cơ sở khám bệnh, HIỆN trên thế giới và tại Việt Nam chữa bệnh - Nhân viên y TÍN -Phát hiện tín hiệu về tính an -Bộ phận CGD của đơn vị tế (nhiều lĩnh HIỆU, toàn của thuốc.

Đánh giá tín hiệu kinh doanh thuốc vực) và đưa ra cảnh báo Cấp độ quốc gia -Cán bộ CGD GIÁ -Đánh giá nguy cơ/lợi ích của -Trung tâm DI & ADR NGUY thuốc Quốc gia và khu vực CƠ -Tư vấn cho lãnh đạo đơn vị, cơ -Cơ quan kiểm định chất quan quản lý lượng thuốc -Hội đồng tư vấn cấp SĐK lưu hành thuốc-Bộ Y tế Ở cấp độ cơ sở hoặc quốc gia: -Cảnh báo về tính an toàn của thuốc -Cơ sở khám bệnh, chữa -Yêu cầu sửa đổi nhãn thuốc; bệnh RA -Đơn vị kinh doanh thuốc -Nhân viên y tế triển khai các đánh giá, nghiên (nhiều lĩnh QUYẾT cứu đặc thù; triển khai kế hoạch -Chương trình tiêm chủng ĐỊNH và các Chương trình y tế vực) CAN quản lý nguy cơ -Lãnh đạo đơn -Thu hồi lô thuốc QG khác THIỆP vị, nhà quản lý -Ngừng cấp mới, cấp lại SĐK -Bộ Y tế; các Vụ, Cục của thuốc chức năng của Bộ Y tế; Sở -Rút SĐK, thu hồi sản phẩm Y tế -Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Phản hồi thông tin cho nhân viên -Đơn vị kinh doanh thuốc -Nhà quản lý, y tế (quyết định quản lý, văn bản -Chương trình tiêm chủng lãnh đạo đơn TRUYỀN và các Chương trình y tế THÔNG thông báo, bản tin và các phương vị; Đơn vị QG khác tiện truyền thông khác) -Bộ Y tế và các Vụ, Cục thông tin thuốc chức năng; Sở Y tế và truyền thông -Phương tiện thông tin đại chúng Hình 1. Quy trình hoạt động của hệ thống Cảnh giác dược [1] 5 1. Vị trí của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác dược Theo Hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác dược, đơn vị kinh doanh thuốc (ĐVKDT) bao gồm các công ty đăng ký, sản xuất, xuất nhập khẩu, phân phối thuốc lưu hành tại Việt Nam và các công ty nước ngoài có giấy phép hoạt động về thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam [1]. Các ĐVKDT có vai trò rất quan trọng trong hệ thống Cảnh giác dược, thông qua thực hiện các nhiệm vụ: - Theo dõi và báo cáo biến cố bất lợi (adverse drug event - AE) xảy ra trong quá trình lưu hành thuốc do cơ sở mình sản xuất, đăng ký, kinh doanh cho Trung tâm DI & ADR Quốc gia và khu vực theo quy định hiện hành.

- Cập nhật thông tin về chất lượng, an toàn và hiệu quả của thuốc do cơ sở mình sản xuất, đăng ký, kinh doanh cho Cục Quản lý Dược trong trường hợp các thông tin này chưa được cập nhật vào hồ sơ đăng ký thuốc khi thuốc còn đang lưu hành trên thị trường theo quy định hiện hành. - Trong trường hợp thuốc có số đăng ký lưu hành tại Việt Nam cũng được lưu hành ở các nước khác, cần cập nhật các thay đổi mới về quản lý thuốc liên quan đến vấn đề an toàn như thông tin trên nhãn, hạn chế chỉ định, thu hồi thuốc và rút số đăng ký của cơ quan quản lý dược phẩm nước ngoài cho Cục Quản lý Dược theo quy định hiện hành. - Xây dựng và triển khai kế hoạch quản lý nguy cơ và giảm thiểu nguy cơ đối với các thuốc có nguy cơ cao do cơ sở mình sản xuất, đăng ký, kinh doanh và khi được Cục Quản lý Dược yêu cầu [1]. Báo cáo ADR và trách nhiệm của ĐVKDT 1.

Tầm quan trọng của báo cáo ADR Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “ADR là một phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc chữa bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý” [32]. Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao, có chủ định hoặc vô tình [20]. ADR đã và đang được nhìn nhận là một vấn đề nghiêm trọng, gây ảnh hưởng 6 tới chất lượng chăm sóc sức khỏe của thầy thuốc trên lâm sàng. Tại Hoa Kỳ, ADR xếp thứ 4 đến thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu [36], tác động lên khoảng 2,4-30% người bệnh trong thời gian nhập viện [37].

Trung bình, các ADR kéo dài thời gian nằm viện thêm 1,74 ngày và làm tăng chi phí điều trị thêm 2013 US$ [38]. Mặc dù gây ra các gánh nặng nghiêm trọng về sức khoẻ và kinh tế cho người bệnh cũng như hệ thống y tế, thống kê cho thấy có tới 70% các ADR có thể phòng tránh được [39]. Trong thực hành, để quản lý và phòng tránh các ADR, có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong đó, báo cáo ADR là cách tiếp cận cơ bản nhất.

Hệ thống báo cáo ADR được xem là nền tảng của thực hành Cảnh giác dược của mỗi quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát thực trạng báo cáo ADR trong kinh doanh thuốc giai đoạn 2014-2015 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá tình hình báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) trong lĩnh vực kinh doanh dược phẩm tại Việt Nam. Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng, những thách thức và giải pháp để cải thiện hệ thống báo cáo ADR, từ đó nâng cao chất lượng quản lý an toàn thuốc. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, dược sĩ và chuyên gia y tế trong việc đảm bảo an toàn cho người sử dụng thuốc.

Để mở rộng kiến thức về các quy trình liên quan đến dược phẩm, bạn có thể tham khảo thêm bài viết 5 luận án xây dựng quy trình xác định một số tân dược trộn trái phép trong chế phẩm đông dược, nơi cung cấp chi tiết về các phương pháp xác định tân dược trộn trái phép, một vấn đề cũng rất quan trọng trong ngành dược.