phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn bao gồm bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số điểm về cơ sở lí luận Chƣơng 2: Phân tích các đặc điểm của hệ thuật ngữ khí tƣợng thuỷ văn tiếng Anh Chƣơng 3: Đặc điểm các thuật ngữ khí tƣợng thuỷ văn tiếng Việt và bƣớc đầu so sánh hệ thuật ngữ khí tƣợng thuỷ văn Anh - Việt Chƣơng 4: Đề xuất ý kiến góp phần biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành khí tƣợng thuỷ văn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ ĐIỂM VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm thuật ngữ Thuật ngữ là đề tài có sức cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Đã có không ít định nghĩa về thuật ngữ ra đời. Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học nhƣ Hoàng Xuân Hãn, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Lƣu Vân Lăng, Vũ Quang Hào, Nguyễn Nhƣ Ý, Nguyễn Thiện Giáp và một số nhà nghiên cứu khác cũng đã đƣa ra những định nghĩa về thuật ngữ.
Theo Hoàng Xuân Hãn, “thuật ngữ hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” [12]. Nguyễn Văn Tu lại cho rằng: “ Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một nghĩa đặc biệt biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc các ngành nói trên”[22 tr. Theo ông thuật ngữ là lớp từ vị trong ngôn ngữ. Thuật ngữ giống từ thƣờng ở chỗ đều tuân theo qui luật ngữ âm và ngữ pháp của ngôn ngữ đó.
Nhƣng thuật ngữ khác từ thƣờng là chỉ có một nghĩa và ít gợi cảm. Một từ có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa nhƣng khi trở thành thuật ngữ nó không có đồng nghĩa và trái nghĩa. Cũng nói về thuật ngữ, Vũ Quang Hào [15, tr.124,125] lại đề cập về phƣơng diện ngữ nghĩa của thuật ngữ. Theo ông, trong tiếng Việt, bản thân hai chữ “thuật ngữ” phải đƣợc hiểu theo bốn nghĩa: “Thuật ngữ” được hiểu là nội dung của khái niệm khoa học (nội hàm khái niệm).
Theo nghĩa này, thuật ngữ là đơn vị cơ bản của mỗi khoa học chuyên ngành. “Thuật ngữ” được hiểu là hình thức ngôn ngữ, là cái vỏ, là tên gọi của một khái niệm khoa học. Theo nghĩa này, thuật ngữ - tên gọi là đơn vị cơ bản trong vốn từ của ngôn ngữ khoa học 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ khái niệm trong một khoa học, một lĩnh vực. Theo nghĩa này, toàn bộ thuật ngữ - khái niệm làm thành hệ thuật ngữ - khái niệm của một khoa học.
“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ tên gọi trong một khoa học. Theo nghĩa này , toàn bộ thuật ngữ - tên gọi làm thành hệ thuật ngữ - tên gọi của một khoa học. Tình trạng của hệ thuật ngữ - tên gọi phản ánh tình trạng ứng dụng lý luận ngôn ngữ học vào việc giải quyết những vấn đề của hình thức ngôn ngữ trong một khoa học. Nguyễn Thiện Giáp cũng đƣa ra một định nghĩa về thuật ngữ rất cô đọng, súc tích, dễ hiểu đồng thời cũng chứa đựng tất cả các đặc điểm mà các nhà Việt ngữ học đi trƣớc nói đến: “Thuật ngữ khoa học là một bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ.
Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [11 tr.118] Qua định nghĩa trên ta thấy thuật ngữ khoa học chính là một lớp từ trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ. Nó không phải là từ vựng chung mà là lớp từ vựng đặc biệt. Nét đặc biệt đƣợc thể hiện ở chỗ thuật ngữ khoa học là những từ và những cụm từ cố định thuộc một chuyên môn nhất định, chính xác và xác định về nghĩa. Sau khi tìm hiểu các định nghĩa về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu nói trên, chúng ta thấy thuật ngữ là từ và cụm từ nhƣng không giống với từ và cụm từ thông thƣờng.
Từ ngữ thông thƣờng có thể biểu thị sắc thái tình cảm, sắc thái phụ nhƣ thái độ đánh giá con ngƣời, khen, chê…, có thể mang tính đa nghĩa, có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa, có thể có đồng âm, trong khi thuật ngữ thì chỉ đơn nghĩa và chỉ mô tả một khái niệm hay một khách thể. Nói cách khác, thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng của một ngôn ngữ, chúng biểu thị khái niệm xác định trong các ngành khoa học kỹ thuật nên thuật ngữ phải tuân thủ tính nghiêm ngặt của nó. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy chúng ta có thể nhận thấy xung quanh khái niệm thuật ngữ có một số đặc điểm cần chú ý: Về mặt cấu trúc: thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ. Về mặt nội dung (mặt biểu nghĩa): thuật ngữ biểu thị duy nhất một nghĩa - một khái niệm.
Về mặt sử dụng: thuật ngữ đƣợc sử dụng trong một ngành nhất định, một lĩnh vực khoa học nhất định. Từ các đặc điểm nêu trên, thuật ngữ đƣợc hiểu một cách ngắn gọn là: Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ biểu thị chính xác khái niệm, đối tượng được sử dụng trong một ngành khoa học cụ thể. Việc nghiên cứu lí luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học Nhƣ trên đã nói, thuật ngữ là một bộ phận từ vựng quan trọng của ngôn ngữ. Đối với ngôn ngữ đƣợc nhiều ngƣời và nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng thì vốn từ vựng phong phú và đƣơng nhiên số lƣợng thuật ngữ chiếm tỉ lệ rất lớn.
Tiếng Anh là một ngôn ngữ nhƣ vậy. Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, thuật ngữ là bộ phận phát triển mạnh nhất so với các bộ phận khác trong từ vựng. Thuật ngữ phát triển theo sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Hiện nay, khoa học kĩ thuật trên thế giới đang phát triển nhƣ vũ bão nên số lƣợng thuật ngữ trên thế giới ra đời rất nhanh để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật đó và ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu thuật ngữ.
Ở Việt Nam hiện nay, các ngành sản xuất công nghiệp và khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh. Số lƣợng các thuật ngữ ở Việt Nam ngày càng nhiều và đang đƣợc hoàn thiện dần, nhƣng bên cạnh đó lại tồn tại một số bất cập. Ví dụ, có những khái niệm đƣợc biểu thị bằng hơn một thuật ngữ. Sở dĩ có điều này là vì các thuật ngữ có khi chƣa đƣợc hệ thống hoá và cách hiểu của các nhà khoa học cũng thiếu thống nhất.
Thí dụ: Lũ - lũ lớn - hồng thuỷ; 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phi cơ trực thăng – máy bay lên thẳng. Ngay cả cách phiên âm thuật ngữ Ấn Âu ở nƣớc ta cũng không thống nhất. Thí dụ: Cùng một thuật ngữ tiếng Anh acid nhƣng sang Việt Nam lại đƣợc viết thành axít, a-xít. Nhìn chung những vấn đề nêu trên gây không ít khó khăn cho ngƣời học.
Hiện nay ở Việt Nam chƣa có đội ngũ đủ mạnh các nhà nghiên cứu thuật ngữ. Chúng ta còn thiếu các chuyên gia chuyên nghiên cứu thuật ngữ học. Vấn đề đang đƣợc đặt ra trƣớc mắt là phải chú trọng nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng và tiêu chuẩn hoá các hệ thống thuật ngữ thuộc các ngành khoa học ở nƣớc ta. Đây là một vấn đề cấp thiết vì Việt Nam đang cần những hệ thống thuật ngữ chuẩn xác, không tồn tại những nhƣợc điểm nhƣ đã nêu trên.
Các nghiên cứu về thuật ngữ ở nƣớc ta từ trƣớc tới nay chủ yếu tập trung ở một số nét chính nhƣ sau: Bàn về yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam Nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học, dần dần tiêu chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ trong các ngành chuyên môn, cuối tháng 12 năm 1964, Uỷ ban Khoa học Nhà nƣớc đã triệu tập Hội nghị bàn về vấn đề Xây dựng thuật ngữ khoa học. Có rất nhiều bản báo cáo đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học, nêu ra những tiêu chuẩn có quan hệ khăng khít chặt chẽ của thuật ngữ khoa học. Trên đại thể các tác giả đề nhất trí với nhau về các tiêu chuẩn. Thuật ngữ khoa học trƣớc tiên phải thật chính xác, có hệ thống, đồng thời phải có màu sắc dân tộc, ngắn gọn và dễ dùng.
Muốn đảm bảo đƣợc mức độ chính xác thì khi đặt một hệ thống thuật ngữ, trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, nên tránh các hiện tƣợng đồng âm, đồng nghĩa (những hiện tƣợng ngày nay thƣờng thấy trong ngôn ngữ), muốn thế thuật ngữ khoa học phải cố gắng tiến tới nguyên tắc: mỗi khái niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ có một khái niệm [23, tr. Theo các nhà khoa học, tính chính xác là đặc điểm quan trọng nhất, cơ bản nhất trong các đặc điểm của thuật ngữ. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bàn về phƣơng cách xây dựng thuật ngữ Về chất liệu Để đặt thuật ngữ khoa học, các nhà khoa học đều đi đến thống nhất: trƣớc hết phải tận dụng kho tàng từ vựng của tiếng Việt, đó là những từ mà mọi ngƣời dân thƣờng dùng. Điều này đảm bảo đƣợc tính dễ hiểu và bảo vệ, phát triển đƣợc ngôn ngữ dân tộc.
Khi cần, có thể dùng yếu tố Hán - Việt. Dùng yếu tố Hán Việt để đảm bảo tính chính xác và hệ thống khi các từ trong tiếng Việt không đảm bảo yêu cầu trên. Ngoài ra, để đảm bảo mức chính xác khoa học cần thiết, chúng ta có thể mƣợn cả yếu tố Ấn Âu để tạo từ, có thể mƣợn những thuật ngữ nƣớc ngoài phiên âm. Nhƣ vậy, có ba nguồn xây dựng thuật ngữ là: Lớp thuật ngữ thuần Việt Lớp thuật ngữ Hán Việt Lớp thuật ngữ Ấn Âu Về mô hình thuật ngữ Nguyễn Văn Tu [22 tr.
177] cho rằng: “Tạo những từ ghép. Phương thức này được dùng nhiều trong tiếng Việt như: đòn bẩy, đoạn thẳng, mặt phẳng, tam giác… cách này thường dựa vào vốn từ vị của ngôn ngữ toàn dân”. Về nguyên tắc vay mƣợn Các nhà khoa học đều thống nhất mƣợn thuật ngữ nƣớc ngoài để làm giàu vốn thuật ngữ của dân tộc. Nhƣng vay mƣợn thuật ngữ nƣớc ngoài không phải là bắt chƣớc ngƣời nƣớc ngoài, cố giữ nguyên cách nói, cách đọc hay cách viết để đƣa vào tiếng Việt, làm cho tiếng Việt bị lai căng, mất tính trong sáng.