Chương 1: Một số cơ sở lý luận liên quan đến đề tài Chương 2: Khảo sát các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả sớm và muộn trong thơ Xuân Quỳnh. Chương 3: Khảo sát các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả phiếm định thời trong thơ Xuân Quỳnh Phần kết luận 11 z Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Đôi nét về con ngƣời và nhà thơ Xuân Quỳnh Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập kỉ 40 và rỡ ràng với những tác phẩm thơ trẻ ở thập kỉ 60. Thơ chị rất nữ tính và giàu cảm xúc, khi thì đầy ắp hạnh phúc, đắm say, lúc lại thấm đẫm suy tư, đau khổ, diễn tả những trăn trở của trái tim một người phụ nữ vừa làm thơ, vừa làm vợ, làm mẹ.
Và cũng chính vì vậy, thơ chị rất gần gũi với đời thường. Trong muôn vàn phong cách thơ hiện đại, nữ sĩ Xuân Quỳnh để lại một dấu ấn đặc biệt bởi một trái tim hồn hậu, đầy nữ tính và rất nhạy cảm trong thơ. Thơ chị luôn viết về những điều bình dị nhất, thể hiện những khát khao đời thường nhất nhưng vẫn mang bao dự cảm về cuộc đời trôi chảy vô định. Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một người phụ nữ.
Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ trữ tình. Đất nước, thiên nhiên, thời đại đều được phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính trữ tình đó. Nói đến xuất xứ của Xuân Quỳnh giữa làng thơ, phải nói đến sự xuất hiện đông đảo, ào ạt của một lớp người viết mới đem vào văn học những giọng nói mới vào những năm 60. Tính chất tự truyện là nét đậm, quán xuyến hàng loạt bài thơ, tập thơ và cũng là nét khác biệt rõ rệt so với thơ của nhiều người cùng thế hệ.
Gần như chị đã trở thành nhân vật văn học của chính thơ mình. Chị đam mê sống, đam mê yêu, đam mê trong thiên chức làm vợ, làm mẹ. Xuân Quỳnh đã sống trọn vẹn tấn kịch của chính mình, ghi lại bằng thơ những động thái tâm hồn mình. Xuân Quỳnh đã từng bảo vệ thị hiếu và quan niệm nghệ thuật của chị bằng chính những sáng tác của mình.
Công chúng nhận ra ở chị một hồn thơ gần gũi như đã thân quen từ lâu. "Chất thơ trữ tình của của Xuân Quỳnh đan quyện cái đắm đuối của cảm xúc trẻ trung vừa đồng thời là niềm lo âu hạnh phúc của người đã qua trải nghiệm, đem 12 z đến cho người đọc niềm cảm chân thành, sự lôi cuốn lãng mạn, nóng hổi tình đời, tình người. Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh là cái tôi được xây cất bởi những mảng trạng thái tâm hồn đầy mâu thuẫn của một trái tim đa cảm và tinh tế. Cái tôi trữ tình ấy hóa thân vào nhiều nhân vật trữ tình khác nhau, thể hiện sự tương tranh giữa các mặt đối lập, giữa biến động và yên tĩnh, khao khát và lo âu, quyết liệt và nữ tính, khắc nghiệt và yên lành.
Nhắc đến thơ Xuân Quỳnh không thể không nói đến thơ tình. Đó là một trái tim yêu tha thiết, đằm thắm, dịu dàng, đầy nữ tính nhưng vẫn không kém phần quyết liệt và không thôi khao khát. Tình yêu cũng là lĩnh vực để chị suy tư, day dứt, kiếm tìm những giá trị của bản thân, thông qua đó hướng tới giá trị của cuộc đời cũng như sự sống. Câu thơ Xuân Quỳnh rạng rỡ, ấm áp khi nói tới niềm vui chung sống lứa đôi: … Nhưng lúc này anh ở bên em Niềm vui sướng trong ta là có thật Như chiếc áo trên tường như trang sách Như chùm hoa nở cánh trước hiên nhà… Chị hiểu sự gắn bó của hai tâm hồn trong tình yêu là sự gắn bó của những giá trị chung mà cả hai phía cùng vun đắp, là sẻ chia rung động, âu lo, sẻ chia lí tưởng: Ôi trời xanh xin trả cho vô tận Trời không xanh nhưng đáy mắt em xanh Và trong em chẳng thể còn anh Nếu ngày mai em không làm thơ nữa Bản tính chất phác, nồng hậu và hơi giản đơn khiến chị thường có xu hướng tìm đến cái ổn định, một niềm tin chắc chắn vào lẽ phải của sự hi sinh, vị tha trong tình yêu cũng như trong cuộc đời.
Ngoài đời thực, Xuân Quỳnh là người đàn bà đẹp và được yêu nhưng ít khi chị thể hiện lòng tự tôn về điều này trong thơ của mình. Dấn thân quyết liệt để kiếm tìm giá trị của đời sống, của tình yêu cũng là giá trị cá nhân khi khám phá những 13 z chân lí rộng lớn hơn tồn tại của một con người đơn lẻ, Xuân Quỳnh đã luôn trung thực với những gì riêng chị nhận thức và tin theo. Xuân Quỳnh luôn ao ước một cuộc đời bình dị, một hạnh phúc đời thường, có khi chỉ là sự sóng bước tay trong tay nhưng lại ùa về cả sự ấm áp, thương yêu và đầy bình yên. Với một quan niệm như vậy nên Xuân Quỳnh thường tìm thấy trong những điều bình thường những sự vật bình thường giản dị ẩn chứa sự gần gũi thân thuộc nhưng vô cùng cần thiết đối với cuộc đời.
Lời thơ của chị cũng trở nên giản dị, tự nhiên như những gì thoát ra từ chính sự vật, hiện tượng của cuộc sống hàng ngày. Xuân Quỳnh có khuynh hướng tìm đến một thế giới quan xuất phát từ tình yêu thương. Trong bất kì bài thơ nào, chị cũng tự tin, thoải mái bộc lộ tình yêu đối với mọi người, mọi vật. Xuất phát từ chính khả năng yêu thương chủ quan để định hướng những giá trị còn lại của cuộc đời.
Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình. Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn.
Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thơ chị là thơ mang tâm trạng. Thời ấy nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm trạng tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn tác giả hòa trong vui buồn chung của công dân.
Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng chị. Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của 14 z mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loàìi người, Những người mẹ không có lỗi.) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống, nó có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lý việc đời, không phải thứ triết lý tư biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì. “Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề”. Đây là một đóng góp đáng quý của Xuân Quỳnh vì giai đoạn ấy thơ chúng ta rất lỏng về tứ.
Xuân Quỳnh có năng khiếu quan sát. Chị quan sát bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ. Một màu cỏ mùa xuân: Cỏ bờ đê rất lạ/ Xanh như là chiêm bao.
Tiếng mưa trên lá cọ: Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh. Xuân Quỳnh là hiện tượng rất quan trọng của nền thơ Việt Nam. Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương, qua các chặng phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào phong phú như vậy. Thơ Xuân Quỳnh đã đi vào lòng người đọc, trở thành tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi, cay đắng ở đời, tiếng nói của tình yêu và tình mẫu tử, tiếng nói hồn hậu, dung dị, chứa đựng sự sống đương thời mà cũng in dấu nếp nghĩ, nếp cảm của tâm hồn người Việt tự xa xưa.
Quan hệ nghịch nhân quả và phƣơng tiện biểu hiện 1. Khái niệm về quan hệ nghịch nhân quả 1. Về quan hệ nhân quả Trong triết học, tính nhân quả là một trong những hình thức của mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau phổ biến nhất, tất yếu và vốn có giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình. Trong lịch sử triết học, vấn đề tính nhân quả luôn là cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Các nhà theo chủ nghĩa duy tâm như Hume hay Kant đều phủ nhận tính nhân quả khách quan, còn Hegel – tuy thừa nhận mối quan hệ nhân quả tồn tại độc lập với con người nhưng lại coi nó là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối. Trong khi đó, chủ nghĩa duy vật thừa nhận tính nhân quả: “mỗi hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều bị ước chế bởi một hay nhiều nguyên 15 z nhân nhất định; nhân và quả đều ở trong những mối quan hệ tác động lẫn nhau; nhân sinh ra quả nhưng quả không thụ động, nó tác động lại nhân đã sinh ra nó và đồng thời là nhân để sinh ra quả khác, tạo thành một chuỗi nhân quả vô hạn,vv…” [13]. Như vậy, để cho nguyên nhân có thể sản sinh ra kết quả thì phải có những điều kiện cần thiết. Tính khách quan của mối quan hệ nhân quả được biểu hiện cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn.
Có thể nói, thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá tính khách quan của mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội. Tóm lại, quan hệ nhân quả là quan hệ giữa hai sự tình là nguyên nhân và kết quả, có nguyên nhân thì tất yếu sẽ có kết quả được tạo ra.