Tổng quan nghiên cứu

Thủy tùng (tên khoa học: Glyptostrobus pensilis) là loài thực vật hạt trần cổ xưa thuộc nhóm IA theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, đồng thời được Sách Đỏ Việt Nam và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) xếp ở cấp Cực kỳ nguy cấp (CR). Trong tự nhiên, quần thể Thủy tùng toàn cầu gần như chỉ còn phân bố cục bộ tại tỉnh Đắk Lắk với số lượng suy giảm nghiêm trọng từ 255 cá thể vào năm 2010 xuống còn khoảng 162 cá thể vào tháng 8 năm 2012. Điển hình tại khu bảo tồn Ea Ral, số lượng cây trưởng thành đã giảm mạnh từ 219 cây xuống chỉ còn 140 cây do tình trạng khai thác trộm và biến đổi thủy văn đất ngập nước. Suốt 35 năm theo dõi thực địa, các nhà khoa học hoàn toàn không ghi nhận sự tái sinh tự nhiên của cây con từ hạt.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn lực tài chính và nhân sự bảo vệ khi kinh phí hoạt động tại một số trạm quản lý chỉ đạt khoảng 16 triệu đồng mỗi năm. Mục tiêu của luận văn là lượng hóa giá trị kinh tế phi sử dụng, cụ thể là giá trị tồn tại của loài Thủy tùng thông qua việc xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) của cộng đồng dân cư đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng khung phân tích chi phí - lợi ích (CBA) toàn diện, qua đó xác lập mức đóng góp trung bình khoảng 73.000 VNĐ trên mỗi hộ gia đình nhằm hỗ trợ thành lập quỹ bảo tồn nguồn gen quý hiếm quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV) để phân tách cấu trúc giá trị của tài nguyên rừng. Trong đó, giá trị của Thủy tùng được chia thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Do Thủy tùng bị nghiêm cấm khai thác thương mại, nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào giá trị phi sử dụng, đặc biệt là giá trị tồn tại (Existence value) - phản ánh mức độ hữu dụng mà xã hội nhận được khi biết loài sinh vật tiếp tục tồn tại độc lập với nhu cầu sử dụng thực tế.

Nền tảng lượng hóa dựa trên Lý thuyết Kinh tế học phúc lợi và Mô hình thỏa dụng ngẫu nhiên (Random Utility Model - RUM) do Hanemann phát triển. Mô hình giả định người trả lời tối đa hóa mức thỏa dụng thỏa mãn điều kiện ngân sách khi đứng trước quyết định đồng ý hay từ chối một khoản đóng góp tài chính định trước. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng các khái niệm kinh tế học môi trường then chốt như phương tiện chi trả (Payment vehicle), hiệu ứng điểm neo giá thầu, thiên lệch giả định và kỹ thuật điều chỉnh độ tin cậy nhằm hạn chế sai số đo lường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu ứng dụng Phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) với định dạng câu hỏi lựa chọn nhị phân một giới hạn (Single-bounded Dichotomous Choice). Quy trình chọn mẫu thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hai giai đoạn tại Thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn 5 quận gồm Quận 4, Quận 7, Quận 10, Quận 12 và Quận Tân Bình. Tổng quy mô khảo sát đạt 360 hộ gia đình, thu về 323 phiếu và sàng lọc được 316 quan sát hợp lệ (tỷ lệ phản hồi hữu dụng đạt 87,8%).

Khảo sát sử dụng phương thức phát phiếu tận tay kết hợp phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình (Drop-off survey) với 6 mức giá thầu ngẫu nhiên: 5.000 VNĐ; 15.000 VNĐ; 30.000 VNĐ; 60.000 VNĐ; 250.000 VNĐ và 500.000 VNĐ thông qua cơ chế thu phụ phí một lần vào hóa đơn tiền điện. Lý do lựa chọn CVM và định dạng lựa chọn nhị phân vì đây là phương pháp chuẩn hóa duy nhất có khả năng đo lường các giá trị phi thị trường và giá trị tồn tại của tài nguyên, đồng thời tạo cơ chế tương thích động cơ giúp người trả lời đưa ra quyết định chân thực tương tự hành vi mua sắm thực tế. Phân tích dữ liệu kết hợp hàm sống sót phi tham số và mô hình hồi quy Logit đa biến.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Ước lượng phi tham số ban đầu cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình đạt 95.750 VNĐ ở lần hỏi thứ nhất và 124.630 VNĐ ở lần hỏi thứ hai. Sau khi tiến hành hiệu chỉnh mức độ chắc chắn của câu trả lời, giá trị WTP hiệu chỉnh tương ứng đạt 70.490 VNĐ và 91.810 VNĐ mỗi hộ gia đình. Phân tích tham số tổng hợp xác định mức WTP trung bình đại diện cho người dân đạt khoảng 73.000 VNĐ trên một hộ.

Thái độ của cộng đồng đối với công tác bảo tồn rất tích cực khi có tới 97% người được hỏi ủng hộ việc áp dụng chế tài pháp luật nghiêm khắc đối với hành vi săn bắt, khai thác và buôn bán trái phép thực vật nguy cấp. Khoảng 73% số người khẳng định loài sinh vật quý có ý nghĩa lớn đối với xã hội dù họ chưa từng nhìn thấy hoặc tiếp xúc trực tiếp. Tuy nhiên, trong số các đối tượng từ chối đóng góp tài chính, có 65% người bày tỏ sự hoài nghi về tính minh bạch và lo ngại nguồn tiền không được sử dụng đúng mục đích bảo tồn cây Thủy tùng.

Mô hình kinh tế lượng chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa đặc điểm nhân khẩu học và xác suất chấp nhận chi trả. Những chủ hộ có trình độ học vấn cao (trung bình 13 năm đi học, trong đó 35% tốt nghiệp đại học) và thu nhập hộ gia đình vượt mức trung bình mẫu (9,27 triệu VNĐ/tháng so với mức chuẩn bình quân cả nước thời điểm đó là 1,387 triệu VNĐ/người/tháng) có xác suất đồng ý chi trả cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Ngược lại, mức giá thầu đề xuất có hệ số hồi quy âm phản ánh quy luật cầu: mức giá đóng góp càng cao thì xác suất đồng thuận càng giảm.

Về phương tiện chi trả, có 46% người tham gia khảo sát ủng hộ hình thức thu phụ phí qua hóa đơn tiền điện (vốn có giá trị trung bình 662.000 VNĐ/tháng, chiếm 7,14% tổng thu nhập hộ). Ngược lại, 54% người không tán thành phương tiện này với lý do không thấy mối liên hệ trực tiếp giữa ngành điện và cây rừng, hoặc e ngại nguy cơ bị tăng giá điện sinh hoạt định kỳ.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng tỷ lệ đồng thuận ở lần hỏi thứ hai bắt nguồn từ hiệu ứng tiếp nhận thông tin và suy ngẫm sâu hơn sau các câu hỏi thảo luận về tính cấp thiết của việc bảo vệ nguồn gen. Rào cản lớn nhất đối với việc huy động nguồn lực xã hội hóa không nằm ở khả năng tài chính của người dân mà nằm ở mức độ tín nhiệm đối với cơ chế quản lý ngân sách công. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm trong nước, trong đó mức WTP 73.000 VNĐ của nghiên cứu này cao hơn mức 40.000 VNĐ từng được ghi nhận trong nghiên cứu bảo tồn Tê giác của Trương Đăng Thụy năm 2005.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, phân phối xác suất đồng ý chi trả theo từng mức giá thầu có thể được mô tả qua đồ thị hàm sống sót dạng đường cong dốc xuống từ mức 5.000 VNĐ đến 500.000 VNĐ. Đồng thời, cơ cấu lý do từ chối đóng góp và tương quan giữa các nhóm thu nhập với mức WTP nên được thể hiện qua bảng số liệu thống kê chéo và biểu đồ cột so sánh tỷ lệ phần trăm trực quan.

Đề xuất và khuyến nghị

Thành lập Quỹ Bảo tồn Nguồn gen Thủy tùng độc lập dưới sự giám sát liên ngành giữa Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên Môi trường Đắk Lắk và đại diện cộng đồng. Mục tiêu là công khai 100% các khoản thu chi tài chính trên cổng thông tin điện tử trong vòng 6 tháng tới nhằm nâng tỷ lệ tin cậy của công chúng từ mức dưới 40% lên trên 85%.

Tăng cường năng lực thực thi pháp luật và tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt tại hai phân khu bảo tồn trọng điểm Ea Ral và Trấp Ksor. Đơn vị chủ quản là Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk cần bổ sung kinh phí thường niên tối thiểu 150 - 200 triệu đồng cho mỗi trạm, tăng cường biên chế từ mức 2-5 cán bộ hiện tại lên 10-12 kiểm lâm viên chuyên trách, đồng thời hoàn thành việc lắp đặt hàng rào ranh giới kiên cố trên toàn bộ 98,6 hecta diện tích lõi trước năm 2026.

Đa dạng hóa các kênh huy động tài chính linh hoạt thay vì áp đặt thu qua hóa đơn sinh hoạt. Ban quản lý dự án bảo tồn cần phối hợp với các tổ chức tín dụng và ví điện tử triển khai cổng quyên góp trực tuyến tự nguyện, hướng đến mục tiêu huy động từ 50.000 đến 100.000 lượt đóng góp của cư dân đô thị trong giai đoạn 2025-2027 dựa trên mức đóng góp kỳ vọng khoảng 70.000 VNĐ mỗi cá nhân.

Triển khai chương trình truyền thông học thuật và giáo dục bảo tồn đa dạng sinh học quy mô toàn quốc do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp với các trường đại học. Chương trình đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người dân nhận diện đúng giá trị sinh học của Thủy tùng từ mức 9% hiện nay lên ít nhất 45% trong vòng 2 năm thông qua các ấn phẩm truyền thông số và hội thảo khoa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý lâm nghiệp: Nghiên cứu cung cấp khung phân tích chi phí - lợi ích và bằng chứng thực nghiệm về giá trị kinh tế của nguồn gen để xây dựng định mức chi ngân sách, hoàn thiện các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hướng bền vững.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh kinh tế tài nguyên và môi trường: Tài liệu là tài liệu tham khảo chuẩn mực về thiết kế bảng hỏi CVM, quy trình lấy mẫu ngẫu nhiên hai giai đoạn, kỹ thuật kiểm định mô hình hồi quy Logit và phương pháp hiệu chỉnh độ tin cậy của biến nhị phân.

Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Cung cấp bức tranh toàn diện về nhận thức xã hội và mức độ sẵn lòng chi trả của cộng đồng tại các đô thị đang phát triển, làm cơ sở xây dựng các đề án tài trợ dự án bảo tồn loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) và nhà quản trị công: Luận văn gợi mở các căn cứ lượng hóa giá trị sinh thái, giúp các doanh nghiệp xác định hạn mức tài trợ hợp lý cho các dự án phục hồi hệ sinh thái và phủ xanh đất ngập nước tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM có ưu thế gì trong định giá loài Thủy tùng? Phương pháp CVM là công cụ kinh tế duy nhất cho phép lượng hóa giá trị phi sử dụng và giá trị tồn tại của tài nguyên thiên nhiên khi các phương pháp dựa trên giá cả thị trường hay chi phí du lịch không thể áp dụng do Thủy tùng bị cấm khai thác và không phục vụ mục đích thương mại.

Mức chi trả trung bình khoảng 73.000 VNĐ của người dân nói lên điều gì? Con số này chứng minh cộng đồng đô thị sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm tài chính cho các nỗ lực bảo vệ thiên nhiên. Khi nhân mức WTP trung bình này với hàng triệu hộ gia đình đô thị, nguồn thu tiềm năng sẽ tạo ra một quỹ ngân sách tự chủ lớn cho công tác bảo tồn nguồn gen.

Vì sao nghiên cứu phải tiến hành bước hiệu chỉnh độ tin cậy trong mô hình? Kỹ thuật hiệu chỉnh độ tin cậy giúp loại bỏ thiên lệch giả định khi người trả lời nói có nhưng không hoàn toàn chắc chắn trong thực tế. Quá trình này giúp giá trị WTP phi tham số giảm từ 95.750 VNĐ xuống 70.490 VNĐ, đảm bảo tính thận trọng và độ tin cậy cao cho dữ liệu kinh tế lượng.

Nguyên nhân chính khiến 54% người khảo sát không ủng hộ thu qua tiền điện là gì? Phần lớn người dân cảm thấy thiếu mối liên hệ hợp lý giữa việc tiêu thụ điện năng với hoạt động bảo tồn rừng ngập nước, đồng thời 52% số người e ngại tình trạng tăng giá điện sinh hoạt và 26% lo ngại nguy cơ thất thoát, tham nhũng trong quản lý quỹ.

Nghiên cứu khắc phục các hạn chế về tính đại diện của mẫu khảo sát như thế nào? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hai giai đoạn tại 5 quận đại diện của Thành phố Hồ Chí Minh với 316 quan sát hợp lệ, đảm bảo cơ cấu độ tuổi lao động chiếm 95% và thu nhập phân bổ tương thích với điều kiện kinh tế xã hội thực tế của đô thị.

Kết luận

Luận văn đã lượng hóa thành công giá trị tồn tại của loài Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) tại Việt Nam thông qua phương pháp đánh giá ngẫu nhiên CVM với mức WTP trung bình khoảng 73.000 VNĐ mỗi hộ gia đình.

Nghiên cứu chứng minh 97% người dân đô thị ủng hộ mạnh mẽ các chính sách chế tài nghiêm khắc để bảo vệ các loài sinh vật nguy cấp, tạo tiền đề vững chắc cho việc xã hội hóa nguồn lực bảo tồn.

Yếu tố học vấn, thu nhập và mức giá thầu có tác động quyết định đến xác suất đồng ý chi trả, trong khi sự minh bạch của tổ chức quản lý quỹ là rào cản tâm lý lớn nhất cần giải quyết.

Các cơ quan quản lý cần nhanh chóng chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính, bổ sung ngân sách kiểm lâm tối thiểu 150 - 200 triệu đồng mỗi năm và thiết lập các cổng quyên góp trực tuyến minh bạch giai đoạn 2024-2026.

Để bảo vệ thành công nguồn gen Thủy tùng trước nguy cơ tuyệt chủng vĩnh viễn, các nhà khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng cần phối hợp hành động khẩn cấp ngay hôm nay để triển khai đồng bộ các giải pháp sinh học và chính sách kinh tế.