Chương 1: Nêu những cơ sở lí luận phục vụ cho luận văn. Trong đó có lí luận về vấn đề lỗi và phân tích lỗi. Tiếp đến là một số vấn đề xoay quanh từ vay mượn và việc xác định nội dung của từ Hán Việt. Chương 2: Trình bày những kết quả thu được qua quá trình tìm kiếm, xác định và thống kê các lỗi cần nghiên cứu.
Chương 3: Giải thích các nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi trong giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ LUẬN VĂN 1. Lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Khái niệm Lỗi theo từ điển Ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ” [33;7] Ở đây, chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa lỗi và sai sót. Lỗi có tính hệ thống, có sự lặp đi lặp lại nhiều lần còn sai sót chỉ có tính ngẫu nhiên. Lỗi xuất hiện do năng lực sử dụng ngôn ngữ đích còn hạn chế. Trong khi sai sót xuất hiện do một vài yếu tố tâm sinh lý như nói nhịu hay mệt mỏi, quên,…Chính vì vậy mà sai sót thì người học có thể tự mình sửa chữa lại được nhưng lỗi thì người học không thể tự sửa lại được cho đúng.
Công việc này cần có sự giúp đỡ của người dạy. Trên thực tế nghiên cứu, để phân biệt lỗi và sai sót đôi khi không hề đơn giản. Song, chúng ta có thể dựa vào tính hệ thống của lỗi. Nghĩa là “tính xuất hiện thường xuyên” theo như nhà Ngôn ngữ học W.
Little Wood cho rằng: “Tiêu chí đánh giá tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên - chứng cứ tốt nhất mà một lỗi phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [32;8]. Tác giả Hà Lê Kim Anh cũng nhấn mạnh rằng người học ngôn ngữ sẽ trải qua quá trình: không hiểu - xuất hiện lỗi - sử dụng đúng [3;11]. Có thể nói, lỗi có vai trò quan trọng trong tất cả các quá trình nghiên cứu, dạy và học ngoại ngữ. Nó có ý nghĩa với cả người dạy, người học và người nghiên cứu.
Lỗi là một hiện tượng đương nhiên xảy ra trong quá trình thụ đắc một ngôn ngữ. Đối với người học, lỗi như là một “phương cách” để thể nghiệm những gì đã học được. Như tác giả Nguyễn Thiện Nam đã phát biểu về lỗi, đó 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là “cách mà người học thử nghiệm những sáng tạo, những phiêu lưu, những giả thuyết của mình về ngôn ngữ mà mình học”[34;124] Việc xuất hiện lỗi và phân tích lỗi giúp cho người dạy có thể đánh giá trình độ của người học, biết được điểm yếu của người học để đưa gia những giải pháp, bài luyện khắc phục lỗi cho học viên. Đồng thời, nhìn vào lỗi mà người nghiên cứu biết được từng bước đường thụ đắc ngôn ngữ của người học như thế nào? Người học từ trình độ thấp đến cao sẽ mắc những lỗi như thế nào, ở mức độ ra sao.
Lý thuyết phân tích lỗi Phân tích lỗi là việc nghiên cứu phân tích các lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ. Những lỗi này nằm trong hệ thống ngôn ngữ người học tạo ra được các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ trung gian hay còn gọi là ngôn ngữ quá độ. Nó mang ảnh hưởng của cả ngôn ngữ gốc lẫn ngôn ngữ đích của người học. Việc phân tích lỗi chính là khảo sát trên nguồn ngữ liệu ngôn ngữ trung gian để tìm ra các dạng lỗi cần nghiên cứu.
Trước khi quan điểm mới về lỗi và phân tích lỗi ra đời thì đã tồn tại một quan niệm khá nghiêm khắc và thiếu tính tích cực khi nhìn nhận hiện tượng lỗi. Theo quan điểm của các nhà Hành vi luận, học tập ngôn ngữ là việc tạo thói quen ngôn từ tốt. Việc mắc lỗi trong sử dụng ngôn ngữ do người học chưa tạo được thói quen hành vi ngôn từ tốt. Vì vậy mà lỗi của là người học cần phải xóa bỏ triệt để.
Lỗi được nhìn nhận như là chứng cứ cho sự thất bại của người học ngôn ngữ. Việc xuất hiện lỗi là do người học thiếu chú ý, thể hiện thái độ không tích cực. Đến thập kỷ 60 của thế kỷ 20, lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của N. Chomsky ra đời.
Ông cho rằng: việc thụ đắc ngôn ngữ không phải là sự hình thành thói quen mà chính là sản phẩm của việc hình thành quy tắc. Tức là nhấn mạnh đến yếu tố tri nhận bằng tư duy. Theo đó, việc học một ngôn ngữ là quá trình phát triển tư duy, khái quát các quy tắc ngôn ngữ chứ không chỉ đơn thuần là việc luyện tập những thói quen ngôn ngữ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Pit Corder [2;9] phân tích lỗi một cách khoa học cần tuân theo một quy trình bao gồm năm bước: (1) Thu thập mẫu ngôn ngữ của người học; (2) Nhận biết lỗi; (3) Miêu tả lỗi; (4) Giải thích lỗi; (5) Đánh giá lỗi.
Thu thập mẫu Trước hết, chúng ta cần tập hợp các ngữ liệu có thể phục vụ cho nghiên cứu lỗi. đó là việc tập hợp các mẫu ngôn ngữ của người học tạo ra. Trong các mẫu này có chữa các lỗi sai. Căn cứ vào các ngữ liệu đó mà ta có thể tìm ra các lỗi và thống kê theo một hệ thống.
Hai cách thu thập lỗi sai thường được áp dụng đó là thu thập tại một thời điểm theo diện rộng (cross - sectional) và thu thập mẫu theo thời gian (longitudinal). Ưu điểm của phương pháp thứ nhất là đơn giản, tiết kiệm thời gian hơn, còn ưu điểm của phương pháp thứ hai là có thể thấy rõ sự thay đổi và phát triển ngôn ngữ của người học. Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát kết hợp cả hai cách thu thập. Song ở cách thu thập mẫu theo thời gian, chúng tôi lấy mẫu theo thời điểm nhưng không trùng đối tượng người học.
Thêm nữa, thời gian thu thập mẫu của chúng tôi khá ngắn trong vòng ba năm học từ 2013 đến 2015 nên nhìn chung chưa thấy rõ được sự khác biệt. Nhận biết lỗi Đây là khâu quan trọng đòi hỏi sự tỉ mỉ và nhận biết chính xác. Vì thực tế việc phân biệt lỗi và sai sót không hề dễ dàng. Lỗi có sự lặp đi lặp lại và nguyên nhân do hạn chế về năng lực ngoại ngữ, người học chưa nắm vững quy tắc ngôn ngữ.
Người học không thể phát hiện ra rằng mình đã mắc lỗi và nếu được cho biết thì người đó cũng không thể tự sửa đúng. Trong khi nhầm lẫn là do người học quá căng thẳng, thiếu chú ý, mệt mỏi, lơ đãng. mà nói 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay viết sai. Thực ra họ đã nắm được quy tắc ngôn ngữ và có thể tự sửa chữa nhầm lẫn của mình.
Chẳng hạn như trường hợp viết sai từ, nói nhịu… Đến lượt lỗi, nó còn có thể phân ra làm hai loại là lỗi lộ rõ và lỗi tiềm tàng. Lỗi tiềm tàng liên quan đến các yếu tố như ngữ cảnh hay tri thức nền. Lỗi lộ rõ thuộc về lỗi hình thức ta có thể dễ dàng xác định được trên câu chữ. Miêu tả lỗi Sau khi đã tập hợp được một danh sách các lỗi thì cần phải tiến hành miêu tả các đặc trưng của lỗi từ đó sắp xếp các lỗi theo nhóm.
Nói cách khác, đây chính là khâu phân loại lỗi. Có nhiều cách phân loại lỗi dựa trên các bộ tiêu chí khác nhau. Thông thường, ta có thể phân loại lỗi theo các cấp độ của ngôn ngữ như lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp, lỗi ngữ dụng. Tác giả Đào Thị Thanh Huyền trong công trình nghiên cứu về lỗi ngữ âm đã nêu ra đề xuất phân chia lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt ra bốn loại chính: 1- lỗi ngữ âm; 2- lỗi từ vựng; 3- lỗi ngữ pháp; 4- lỗi xuyên văn hóa.
Còn tác giả Phạm Đăng Bình đã đưa ra cách phân loại mới, rõ ràng hơn và bao quát mọi góc độ, kể cả về mặt dụng học giao thoa văn hóa. Tác giả cho rằng: “trong khi phân loại lỗi cần phải quan tâm đến các đối tượng mắc lỗi, thời điểm mắc lỗi, các nét đặc thù về văn hóa và cả loại hình ngôn ngữ cứ không nên chỉ nhìn vào từng loại lỗi cụ thể” [3;68]. Nghĩa là trước khi phân tích lỗi phải xem xét tất cả các khía cạnh. Chẳng hạn, ta cần xét xem người học là người nước nào? nền văn hóa của họ ra sao? ngôn ngữ mẹ đẻ của họ có đặc điểm gì? mức độ ảnh hưởng như thế nào đến quá trình tiếp nhận ngôn ngữ đích?… Theo đó, tác giả này đã phân lỗi thành hai loại lớn là lỗi phổ biến và lỗi đặc trưng.
Lỗi phổ biến là lỗi thường xảy ra trong giai đoạn đầu của quá trình học. Đây là những lỗi chung mà bất kể người học ngoại ngữ nào cũng vấp phải không phân biệt người học mang quốc tịch gì, loại hình ngôn ngữ của họ như thế nào. Lỗi phổ biến cũng được chia ra thành lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp. Lỗi đặc trưng là kiểu lỗi riêng của từng đối 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng thuộc các nền văn hóa khác nhau.
Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ hay tư duy văn hóa của họ mà gây ra lỗi trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai. Chẳng hạn, trong tiếng Hàn, động từ thay đổi dạng thức phụ thuộc vào tuổi tác của người nghe trong đối thoại. Đặc điểm này khiến cho người Việt học tiếng Hàn dễ dùng sai động từ kính ngữ, có nghĩa là đã thể hiện sự bất kính với người già. Lỗi đặc trưng bao gồm hai kiểu lỗi là lỗi giao thoa ngôn ngữ và lỗi giao thoa văn hóa.
Luận văn này nghiên cứu lỗi sử dụng từ Hán Việt của đối tượng người học là sinh viên Trung Quốc thuộc loại lỗi đặc trưng giao thoa từ vựng. Do trong quá trình sử dụng, phần lớn các từ Hán Việt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có sự biến đổi về nghĩa so với các từ tương đương trong tiếng Hán hiện đại. Các từ Hán Việt trong hai ngôn ngữ có phần khác biệt về nghĩa biểu niệm, biểu vật, biểu cảm và biểu trưng nên đã thay đổi về cách dùng.