MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
Dự kiến bố cục luận văn. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT .1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến lỗi trong việc học tiếng Việt của ngƣời nƣớc ngoài nói chung và việc học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc nói riêng .1 Giao thoa ngôn ngữ .2 Khái niệm lỗi và phân loại lỗi .3 Lỗi ngữ pháp .3 Khái quát đặc điểm ngữ pháp của tiếng Trung và tiếng Việt .1 Khái quát đặc điểm ngữ pháp tiếng Trung.2 Khái quát đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt. 24 Tiểu kết chƣơng 1. 31 Chƣơng 2: LỖI HƢ TỪ TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC .1 Lỗi các hƣ từ thuộc nhóm làm thành tố phụ đoản ngữ .1 Lỗi các hƣ từ chuyên làm thành tố phụ cho đoản ngữ có danh từ làm trung tâm .2 Lỗi các hƣ từ chuyên làm thành tố phụ cho đoản ngữ có động từ làm trung tâm.2 Lỗi các hƣ từ thuộc nhóm không làm thành tố phụ đoản ngữ .1 Lỗi các hƣ từ nối kết các yếu tố có quan hệ chính - phụ: của, cho, ở, với .2 Lỗi các hƣ từ đặc biệt: là, thì.
Lỗi các hƣ từ nằm ngoài đoản ngữ: các hƣ từ phụ trợ .1 Lỗi các hƣ từ luôn phụ trợ cho một yếu tố trong đoản ngữ hoặc câu (trợ từ): ngay, cả , đến. Lỗi các hƣ từ luôn phụ trợ cho cả cấu trúc để dạng thức hoá hoặc nêu tình thái (phụ từ): à, ư, nhỉ, nhé, ạ, đây, đấy, sao, nào, cơ, kia, ấy, mà, vậy,. 74 Tiểu kết chƣơng 2. 77 Chƣơng 3: LỖI TRẬT TỰ THÀNH PHẦN CÂU VÀ TRẬT TỰ TỪ TRONG CÁC NGỮ ĐOẠN TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC.
Lỗi trật tự thành phần câu. Lỗi trật tự chủ ngữ và vị ngữ. Lỗi trật tự trạng ngữ câu. Lỗi trật tự định ngữ câu.
Lỗi trật tự từ trong ngữ đoạn. Lỗi trật tự từ trong ngữ đoạn danh từ. Lỗi trật tự trong ngữ đoạn vị từ. 88 Tiểu kết chƣơng 3.
100 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lí do chọn đề tài Ngày nay, đứng trƣớc vận hội mới, Việt Nam đang hội nhập vào đời sống của nhân loại, mở cửa giao lƣu với mọi dân tộc trên thế giới, không phân biệt màu da, sắc tộc, chính kiến hay tôn giáo. Ðó là một chính sách đúng đắn và hợp lý, mang lại sự phát triển toàn diện cho đất nƣớc từ kinh tế, văn hóa, đến mọi mặt của đời sống xã hội. Sự phát triển của giao tiếp quốc tế làm nảy sinh nhu cầu học ngoại ngữ.
Đây là chiếc cầu nối quan trọng và hữu hiệu trong xã hội hiện đại. Nó làm cho khoảng cách giữa các quốc gia, các dân tộc trở nên gần nhau hơn. Và nhờ có ngoại ngữ mà con ngƣời cũng hiểu nhau hơn, biết cảm thông với nhau hơn. Từ đó chung tay thực hiện một mục đích lớn lao, đó là mục đích vì một thế giới hòa bình.
Việt Nam và Trung quốc là hai nƣớc láng giềng có quan hệ lâu dài. Hiện nay, mối quan hệ này phát triển hơn lúc nào hết, thúc đẩy ngƣời dân hai nƣớc tìm hiểu và học tập lẫn nhau. Trong xu thế đó, những năm gần đây, sinh viên Trung Quốc sang Việt Nam học Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, cũng nhƣ sinh viên Việt Nam sang Trung Quốc học tiếng Trung và văn hóa Trung Quốc ngày càng nhiều. Tiếng Việt và tiếng Trung có cùng loại hình ngôn ngữ, hệ thống ngữ pháp có nhiều điểm tƣơng đồng, gần 60% từ vựng tiếng Việt lại đƣợc mƣợn từ tiếng Hán qua nhiều thời đoạn lịch sử khác nhau, điều đó tạo nhiều thuận lợi cho sinh viên Việt Nam học tiếng Trung và sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt.
Tuy nhiên, dù gần gũi thế nào thì tiếng Việt và tiếng Trung vẫn là hai ngôn ngữ và giao thoa ngôn ngữ tất yếu sẽ nảy sinh trong quá trình học tập ngôn ngữ của nhau của sinh viên hai nƣớc. Điều này đặt ra cho những ngƣời làm công tác giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa của hai nƣớc 1 một nhiệm vụ rất quan trọng đó là phải nghiên cứu để tìm ra con đƣờng tốt nhất giúp sinh viên hai nƣớc tiếp cận và làm chủ ngoại ngữ mà mình cần. Về phía bản thân, trong những năm qua, chúng tôi đã tham gia giảng dạy tiếng Trung Quốc cho sinh viên Việt Nam cũng nhƣ dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc. Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi đã nhận thấy việc sinh viên Trung Quốc mắc lỗi trong sử dụng tiếng Việt và sinh viên Việt Nam mắc lỗi trong sử dụng tiếng Trung là khá phổ biến, thậm chí có những lỗi nghiêm trọng có thể làm cho ngƣời nói không đạt đƣợc mục đích giao tiếp, và gây ra những hiểu lầm không đáng có.
Vì vậy, việc tìm ra lỗi và sửa lỗi cho sinh viên trong việc sử dụng ngôn ngữ thứ hai là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Khảo sát lỗi ngữ pháp trong sử dụng tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc tại một số trường đại học ở Hà Nội” với hy vọng có thể có một đóng góp nhỏ vào việc giúp sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt hiệu quả hơn và sử dụng tiếng Việt tốt hơn. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Luận văn đặt mục đích thu thập, khảo sát, phân tích lỗi ngữ pháp của sinh viên Trung Quốc trong sử dụng tiếng Việt.
Trên cơ sở những hiểu biết căn bản về tiếng Việt và tiếng Trung, luận văn sẽ cố gắng tìm ra nguyên nhân và đề nghị một số giải pháp khắc phục lỗi nhằm giúp sinh viên sử dụng tiếng Việt tốt hơn, đạt hiệu quả giao tiếp cao hơn. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích trên đây, luận văn dự kiến sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau đây: - Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý thuyết về giao thoa ngôn ngữ, về lỗi trong học ngoại ngữ. 2 - Tìm hiểu đặc điểm ngữ pháp của tiếng Trung và tiếng Việt. - Thống kê tất cả các loại lỗi ngữ pháp mà sinh viên Trung Quốc mắc phải trong sử dụng tiếng Việt.
- Phân tích và miêu tả lỗi ngữ pháp của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt ở hai phạm vi: lỗi sử dụng hƣ từ và lỗi trật tự thành phần câu và ngữ đoạn. - Dựa vào đặc điểm của tiếng Trung và tiếng Việt, tìm cách lý giải các nguyên nhân mắc lỗi từ cả góc độ khách quan cũng nhƣ chủ quan và đề nghị một số giải pháp khắc phục. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 3. Tư liệu nghiên cứu Luận văn đã nghiên cứu trên nguồn tƣ liệu sau đây: - Nguồn tƣ liệu chủ yếu là 350 bài viết, mỗi bài khoảng 300 từ của sinh viên Trung Quốc trình độ trung cấp và cao cấp.
Tƣ liệu thu đƣợc qua 300 bài viết trên đây là 373 lỗi liên quan đến những quy tắc ngữ pháp trong tiếng Việt. - Tƣ liệu thu đƣợc thông qua trò chuyện với các sinh viên về những khó khăn khi học tiếng Việt, về nguyên nhân mắc lỗi theo cảm nhận chủ quan của các em. Phương pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp thống kê, phân loại dùng trong việc thống kê và phân loại lỗi. - Phƣơng pháp phân tích ngữ pháp dùng trong phân tích lỗi ngữ pháp của sinh viên (ở phạm vi sử dụng các hƣ từ và trật tự thành phần câu, thành phần ngữ đoạn).
3 - Thủ pháp so sánh đƣợc áp dụng trong trong nhiều trƣờng hợp để so sánh đặc điểm ngữ pháp tiếng Trung và tiếng Việt nhằm tìm ra nguyên nhân và cơ chế mắc lỗi của sinh viên. Dự kiến bố cục luận văn Luận văn dự kiến chia thành ba chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Lỗi hƣ từ tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc Chƣơng 3: Lỗi trật tự thành phần câu và trật tự từ trong các ngữ đoạn tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc KẾT LUẬN 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến lỗi trong việc học tiếng Việt của ngƣời nƣớc ngoài nói chung và việc học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc nói riêng Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lỗi trong việc sử dụng tiếng Việt của ngƣời nƣớc ngoài. Có những công trình chỉ mang tính tham khảo nhƣ bài báo, tiểu luận, tham luận.
Nhƣng cũng có những công trình là những nghiên cứu khoa học chuyên sâu có tính ứng dụng rất cao. Gần đây nhất phải kể đến Luận án tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn Thiện Nam. Đề tài tác giả nghiên cứu là “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan.” Trong luận án này, lần đầu tiên, lỗi ngữ pháp đƣợc tác giả khảo sát một cách hệ thống dƣới ánh sáng của lý luận phân tích lỗi hiện đại. Và cũng lần đầu tiên, thủ pháp xử lý lỗi ngữ pháp trong một giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đƣợc đề cập đến.
Luận án cũng mang đến một cách hiểu đúng hơn về bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp của một số hiện tƣợng ngữ pháp tiếng Việt mà từ xƣa đến nay các sách ngữ pháp, các từ điển và các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài còn bỏ sót hoặc bỏ qua. Luận án đã giới thiệu một cách hệ thống những cơ sở lý luận của vấn đề lỗi và phân tích lỗi của ngƣời học ngôn ngữ thứ hai theo cách nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng (theo lời tác giả). Trƣớc luận án này, tác giả Nguyễn Thiện Nam còn có một số bài viết liên quan đến lỗi đã đƣợc công bố nhƣ : “Một vài nhận xét và lý giải về lỗi dùng từ Hán – Việt của người Nhật Bản” đƣợc đăng trong Kỷ yếu hội nghị “Tiếng Việt như một ngoại ngữ”, “Hiện tượng tỉnh lược chủ ngữ trong tiếng Nhật đối với lỗi giao thoa trong tiếng Việt của người Nhật Bản” đƣợc đăng trên tạp chí Ngữ học trẻ 97; “Một vài 5 nhận xét về lỗi giao thoa của người Campuchia khi học tiếng Việt” đƣợc đăng trong Kỷ yếu hội nghị quốc tế lần thứ năm về các ngôn ngữ Châu Á, 2000; “Một vài nhận xét về lỗi sử dụng các từ “cả”, “tất cả”, “mọi” trong tiếng Việt của người nước ngoài”, trên Ngữ học trẻ 2000, .