CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI I. Khái quát chung về hư từ tiếng Việt 1. Phạm trù từ loại hư từ Trong cơ cấu của các ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính như tiếng Việt thì thực từ và hư từ là hai phạm trù từ loại rất cơ bản. Việc phân chia từ loại cũng như đặc điểm từ loại của tiếng Việt đã được quan tâm từ lâu.
Hầu hết các nhà nghiên cứu khi đi vào nghiên cứu ngữ pháp đều dành riêng một phần công trình để phân định từ loại tiếng Việt. Có thể khái quát sự nghiên cứu về từ loại của các nhà nghiên cứu thành hai giai đoạn là giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20 và giai đoạn những năm giữa thế kỉ 20 trở lại đây. Ở giai đoạn thứ nhất, tác giả Trần Trọng Kim3 phân tiếng Việt thành 13 loại: danh từ, mạo từ, loại từ, chỉ định từ, loại danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, liên từ, tán thán từ, trợ ngữ từ, từ đệm. Bùi Đức Tịnh4 phân các “tự ngữ” thành tám loại: danh từ, đại từ, trạng từ, động từ, phó từ, liên từ, giới từ và giới ngữ, hiệu từ.
Dễ thấy là những cách chia này chủ yếu dựa trên sự mô phỏng các ngôn ngữ châu Âu. Ở giai đoạn thứ hai, các tác giả khi phân chia từ loại đã đưa ra những tiêu chí cụ thể. Nhìn chung, các tác giả đều chia từ tiếng Việt thành hai nhóm lớn là thực từ và hư từ. Theo đó, hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng, chúng không phải là những đơn vị định danh, không thể hiện toàn ẹn một ý nghĩa chân thực nào mà chỉ thể hiện một ý nghĩa ngữ pháp nào đó như : thời, thẻ, giống, số, cách.hay các quan hệ liên kết.
Về chức năng, hư từ là những 3 Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ và Phạm Duy Khiêm - Phạm văn Việt Nam - NXB Tân Việt, 1940 4 Nguyễn Minh Thuyết- Cách xác định thành phần câu tiếng Việt, in trong "Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á" - NXB Khoa học xã hội, 1988 8 từ không đứng độc lập, không có khả năng làm trung tâm đoản ngữ, tạo lập thành phần câu mà chỉ có chỉ khả năng làm thành tố phụ cho trung tâm đoản ngữ hoặc nối kết các thành phần câu, các đoản ngữ. Một số tác giả khác còn phân chia kho từ vựng tiếng Việt thành ba loại: thực từ, hư từ và một nhóm từ độc lập với hư từ và thực từ được gọi là tình thái từ hoặc ngữ thái từ. Như thế có thể thấy về cơ bản các tác giả đều thống nhất trong sự phân loại thành hai mảng thực từ và hư từ tiếng Việt. Hệ thống các tiểu loại của hư từ Việc phân chia các tiểu loại từ nhỏ hơn trong lớp hư từ cho đến nay vẫn còn khá nhiều ý kiến khác nhau.
Lê Biên5 chia hư từ thành bốn loại là phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ và thán từ. Tác giả Nguyễn Kim Thản 6 chia kho từ vựng thành hai mảng: ngữ thái từ và phi ngữ thái từ. Ngữ thái từ gồm trợ từ và thán từ; phi ngữ thái từ lại được chia ra thực từ, hư từ và bán thực từ, bán hư từ. Trong đó, tác giả chia quan hệ từ thành ba loại là liên từ, giới từ và hệ từ.
Tác giả Nguyễn Anh Quế7 chia hư từ tiếng Việt thành ba nhóm: Nhóm những hư từ làm thành tố phụ đứng trước trong đoản ngữ danh từ; nhóm những hư từ đứng trước động từ và nhóm hư từ quan hệ. Trong đó, căn cứ vào tính chất quan hệ của các thành tố cú pháp mà những hư từ đó nối kết, tác giả chia hư từ quan hệ thành 3 nhóm: Giới từ, liên từ và các hư từ đặc biệt. 5 Lê Biên - Từ loại tiếng Việt hiện đại - NXB Giáo dục, HN 1999 6 Nguyễn Kim Thản - Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt - Tập 2- NXB Khoa học xã hội, HN 1964 7 Nguyễn Anh Quế - Hư từ trong tiếng Việt hiện đại - NXB Khoa học xã hội, HN 1988 9 Tác giả Nguyễn Minh Thuyết8 thì chia hư từ thành phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ. Nhiều người chia quan hệ từ ra hai từ loại là liên từ, giới từ.
Tác giả Nguyễn Hồng Cổn9 thì căn cứ vào khả năng làm trung tâm của đối tố và vị tố, chia từ loại thành ba nhóm: những từ có khả năng làm đối tố, vị tố; những từ có khả năng làm thành phần phụ cho đối tố và vị tố; những từ liên kết cho đối tố và từ tình thái. Trong đó liên từ và giới từ được xếp chung một nhóm - nhóm từ liên kết. Có thể khái quát lại rằng khi đi vào nghiên cứu hư từ, khó khăn lớn nhất mà người nghiên cứu sẽ phải đối mặt là các tiêu chuẩn phân định các lớp từ loại nhỏ hơn không còn thuần tuý mang tính hình thức nữa. Các ý nghĩa ngữ pháp mà các hư từ (trong đó có liên từ) hàm chứa dường như quá nghèo nàn và khó khái quát thành các đặc điểm chung.
Nói cách khác, để đi vào miêu tả các đặc tính phạm trù của chúng, chúng ta phải có các dữ liệu nằm ngoài kiểu dữ liệu mà ngữ pháp truyền thống thường yêu cầu, nghĩa là phải đi vào khảo sát trong những tác phẩm cụ thể thì mới có thể thấy rõ các đặc điểm và sự hoạt động của chúng. Liên từ gốc Hán trong tiếng Việt 1. Từ loại Liên từ trong tiếng Việt 1.1 Định nghĩa Liên từ là một loại từ thuộc mảng hư từ và có vị trí quan trọng trong hoạt động ngữ pháp của tiếng Việt. 8 Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp - Về khái niệm nòng cốt câu- Tạp chí Ngôn ngữ số 4- 1994 9 Nguyễn Hồng Cổn - Vấn đề phân định từ loại tiếng Việt - Tạp chí ngôn ngữ số 2- 2003 10 Theo quan điểm của ngữ pháp học truyền thống thì cho đến nay, xoay quanh từ loại liên từ - đối tượng mà đề tài này gọi tên và nghiên cứu, khảo sát - tồn tại những khái niệm sau đây: Quan hệ từ, từ nối, kết từ, liên từ.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học 10 thì kết từ là "từ chuyên biểu thị quan hệ cú pháp, nối liền các thành phần trong câu với nhau". Những từ như: do, của, và để, bởi, nếu, thì.là những kết từ trong tiếng Việt. Liên từ là "kết từ dùng để chỉ quan hệ cú pháp giữa hai từ hoặc ngữ có cùng một chức năng trong câu, giữa hai câu hoặc phân câu"11. Những từ và, nhưng, nếu, thì.là những liên từ trong câu.
Quan hệ từ là "những hư từ cú pháp không được dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay khác mà là công cụ diễn đạt các quan hệ logic, các quan hệ trong cách thức phản ánh của người bản ngữ"12. Quan hệ từ còn được gọi là từ nối. Như vậy, có thể giải thích một cách khái quát như sau về 4 khái niệm trên đây: Quan hệ từ có tên gọi khác là kết từ hoặc từ nối. Ba tên gọi này thực chất là sự chỉ ra các đặc điểm của 1 nhóm từ có chức năng liên kết trong ngữ đoạn, trong câu hoặc giữa các câu với nhau (chúng tôi chấp nhận tên gọi quan hệ từ).
Quan hệ từ là những hư từ dùng để diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ với thực từ trong các phát ngôn, nghĩa là diễn đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy trừu tượng. Nhóm từ này, vì thế cũng là công cụ diễn đạt các quan hệ logic, các quan hệ trong cách thức phản ánh của người 10 Hoàng Phê(chủ biên)- Từ điển Tiếng Việt, Tr 488 - NXB Đà Nẵng, 2005 11 Hoàng Phê(chủ biên)- Từ điển Tiếng Việt, Tr 568 - NXB Đà Nẵng, 2005 12 Nguyễn Như Ý(chủ biên) - Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học - NXB Giáo dục, HN 2001 11 bản ngữ. Chúng chính là phương tiện liên kết trong các kết cấu mệnh đề với nhau trong phát ngôn. Quan hệ từ gồm có hai nhóm nhỏ hơn là giới từ và liên từ.
Theo tác giả Nguyễn Anh Quế 13 thì liên từ thuộc nhóm hư từ kết nối (nhóm hư từ quan hệ từ). Diệp Quang Ban14 không sử dụng khái niệm liên từ mà dùng khái niệm quan hệ từ. Theo đó, tác giả phân loại quan hệ từ trong tiếng Việt thành quan hệ từ bình đẳng và quan hệ từ phụ thuộc dựa theo các quan hệ logic. Có một danh sách khoảng hơn 40 quan hệ từ được thống kê và miêu tả trong công trình của tác giả.
Nhóm các tác giả Hữu Đạt, Thanh Lan, Trần Trí Dõi15 thì phân biệt từ thực với từ hư theo chức năng tín hiệu học. Theo đó, từ hư là những từ nêu các mối quan hệ về số lượng, thời gian, không gian, mục đích, sự đánh giá về các kiểu quan hệ logic bằng cách đi kèm với thực từ, không làm thành cái cần gọi tên như là đối tượng của tư duy. Các tác giả này sử dụng khái niệm kết từ để chỉ chung hai loại từ dùng để nối kết các thực từ hoặc các vế câu là liên từ và giới từ. Theo đó, liên từ được chia làm hai loại là liên từ bình đẳng và liên từ qua lại.
Tác giả Phan Khôi16 đặt giới từ và liên từ vào chung một loại là quan hệ từ và định nghĩa "Liên từ là từ dùng để làm dính nhau tự với tự, từ với từ, cú với cú, để tỏ ra sự quan hệ giữa chúng nó". Cao Xuân Hạo17 thì định nghĩa "Liên từ là những từ công cụ ngữ pháp có chức năng liên kết hai yếu tố đẳng lập trong câu ghép hoặc hai câu"( Tr99). 13 Nguyễn Anh Quế - Hư từ trong tiếng Việt hiện đại - NXB Khoa học xã hội, HN 1988 14 Diệp Quang Ban - Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông , Tập 2 - NXB Đại học và THCN, HN 1989 15 Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan - Cơ sở tiếng Việt - NXB Văn hoá thông tin, Hn 2000 16 Phan Khôi - Việt ngữ nghiên cứu - NXB Đà Nẵng, 2004 12 Tác giả cũng chỉ ra rằng khi làm nhiệm vụ liên kết ở vị trí ngay đầu câu, các liên từ, dù không chứa đựng một yếu tố hồi chỉ nào trên bề mặt, cũng vẫn cho ta thấy rằng câu ấy bắt buộc phải có quan hệ với câu trước. Tác giả Nguyễn Hồng Cổn18 gọi tên là liên từ và xếp loại từ này vào nhóm kết từ có tác dụng liên kết gồm liên từ và giới từ.