CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát về hư từ: Tiếng Việt có một vốn từ rất lớn. Khi phân chia về mặt từ vựng thì vốn từ này có thể chia theo cấu tạo từ đơn, từ phức; hoặc chia theo nguồn gốc thành từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ vay mượn, từ quốc tế. Riêng từ Hán Việt cũng đã phân chia thành Hán Việt cổ, Hán Việt, Hán Việt Việt hóa.
Còn về mặt ngữ pháp, vốn từ này được phân chia thành 2 phân mảng thực từ và hư từ. Với một ngôn ngữ phân tích tính như tiếng Việt thì bên cạnh những thực từ, hư từ đóng một vai trò hết sức quan trọng, bởi phần lớn các phạm trù ngữ pháp, các quan hệ ngữ pháp đều được thể hiện thông qua hư từ. Bản chất ý nghĩa của hư từ thiên về tính chất ngữ pháp. Trong tiếng Việt, số lượng thực từ nhiều hơn hẳn so với hư từ.
Nhưng tần số sử dụng hư từ lại cao hơn hẳn so với thực từ. Nếu như không có thực từ thì không thể có sự liên hệ với sự vật, hiện tượng trong thực tế, nhưng không có hư từ thì không thể suy nghĩ, thông báo được đầy đủ, rõ ràng. Không thể nói ra toàn những câu mà trong đó chỉ có thực từ. Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến vấn đề hư từ trong tiếng Việt.
Tuy vậy, cũng chưa hẳn đã có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu về vấn đề này, mà trước tiên có thể kể đến quan niệm về hư từ. Bởi vậy, trong phần lý thuyết này, chúng tôi xin trích dẫn một vài ý kiến làm cơ sở lý luận cho việc nhìn nhận, đánh giá về hư từ, phục vụ cho việc tiến hành khảo sát, phân loại hư từ được chính xác hơn. Khái niệm hư từ Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ - Tác giả Hoàng Phê trong [14, 472] giải thích: “Hư từ là những từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu, được dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ”. - Nguyễn Anh Quế trong [16, 14] cho rằng: “Hư từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chỉ có tác dụng nối các từ, các mệnh đề, các câu lại với nhau theo một quan hệ nào đó, chúng cũng không thể làm thành phần câu”.
- Diệp Quang Ban trong [3, 469] quan niệm: “Hư từ là từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu và phục vụ cho việc biểu hiện các mối quan hệ ngữ nghĩa, cú pháp giữa các thực từ”. - Đinh Văn Đức trong [9, 53] cho rằng: “Hư từ không trực tiếp biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân suất các hình thức của khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy (theo cách phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ). - Hoàng Trọng Phiến trong [15, 7] cũng quan niệm: “Hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ”. - Nguyễn Kim Thản trong [20, 149] cho rằng: “Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng hẳn hoi mà chỉ có tác dụng làm công cụ để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau”.
- “Ngữ pháp tiếng Việt” của UBKHXH (tr 68): Hư từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng. Hư từ được dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất định. Như vậy có thể thấy rằng, hư từ là một phạm trù từ loại đối lập với thực từ. Một số tiêu chí được các nhà nghiên cứu nhắc đến khi phân biệt hư từ với thực từ (theo [3, 470]) gồm: - Ý nghĩa khái quát - Khả năng kết hợp Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ - Chức vụ cú pháp Mỗi nhà ngôn ngữ học lại đưa ra những đặc điểm của hư từ: - Quan niệm của Đinh Văn Đức [9, 53-54]: Hư từ không làm trung tâm đoản ngữ, trong đa số trường hợp hư từ được dùng làm yếu tố liên kết cú pháp và là chất “xúc tác” cho việc liên kết từ trong ngữ lưu qua các loại hình cấu trúc ngữ pháp.
Hư từ không có khả năng độc lập tạo ra câu và cũng không làm thành phần câu. - Theo Hoàng Trọng Phiến [15, 8-11], hư từ có những đặc điểm: + Hư từ mang nghĩa quan hệ. Nghĩa của hư từ gắn với cách thức tư duy, hành vi tư duy. Lựa chọn hư từ nào để cấu tạo câu nói mang thông tin là xuất phát từ nhu cầu diễn đạt của tư duy.
+ Hư từ tham gia kiến tạo lập luận. + Hư từ không làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn và không độc lập làm thành phần câu cũng như không độc lập tạo ra câu. Hư từ và các kết cấu hư từ đứng ngoài nòng cốt câu và có liên đới đến toàn câu nhằm diễn đạt ý nghĩa ngữ dụng nào đó tùy theo chiến lược của người sử dụng chúng. + Hư từ tự nó không có khả năng biểu hiện sắc thái nghĩa.
Nó có nghĩa tình thái khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một văn cảnh nào đó. + Hư từ không có khả năng láy để tạo dạng thức ngữ pháp. Nguyễn Minh Thuyết trong [22] cũng đưa ra một số dấu hiện để nhận diện từ loại hư từ. Dựa trên các dấu hiệu này, chúng ta có thể có một cách hiểu khái quát về hư từ như sau: Một từ được coi là hư từ khi nó không mang ý nghĩa từ vựng chân thực, không có khả năng làm trung tâm trong đoản ngữ, không đứng độc lập làm thành phần câu.
Hư từ chỉ làm thành tố phụ cho thực từ, hoặc có tác dụng nối kết các thực từ theo một quan hệ ngữ pháp nào đó. Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ 1. Phân loại Hư từ trong tiếng Việt được xác định bao gồm các tiểu loại: phó từ, liên từ, giới từ, ngữ khí từ, trợ từ, tình thái từ. Tuy vậy, không phải các nhà ngôn ngữ học đều có sự thống nhất với nhau trong cách phân chia và gọi tên các tiểu loại hư từ này.
Ở đây, chúng tôi xin tạm không bàn sâu đến vấn đề này mà tập trung đi vào chi tiết. Cụ thể, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát ba tiểu loại hư từ là : Phó từ, Liên từ, Giới từ. Phần lớn các hư từ gốc Hán trong tiếng Việt đều thuộc ba tiểu loại này, nên đây sẽ là cơ sở dễ dàng để chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu hư từ thuần Việt với các hư từ gốc Hán. Ý nghĩa và chức năng Bên cạnh thực từ, hư từ là mảng từ không thể thiếu trong vốn từ tiếng Việt.
Hư từ cũng là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu tạo nên các đơn vị lớn hơn như đoản ngữ, cú… Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ là chuyển từ thực mà ra, nhất là các phó từ, giới từ, liên từ… Khi tham gia tổ chức câu nói, hư từ cũng mang vào câu những nét nghĩa bổ sung, còn gọi là nghĩa tình thái. Bởi vậy, không có lý gì chúng ta có thể bỏ qua ý nghĩa cũng như chức năng của hư từ. Ý nghĩa So với thực từ, hư từ có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt hơn (theo [16, 38]), nó không thể hiện trọn vẹn một ý nghĩa chân thực nào mà chỉ thể hiện ý nghĩa nghĩa ngữ pháp, như ý nghĩa về thời, thể… hoặc quan hệ liên kết. Để xác định ý nghĩa của hư từ cần thông qua chức năng cú pháp do chúng biểu thị trong các tổ hợp.
Chức năng Theo Nguyễn Anh Quế trong [16, 43] thì hư từ không làm yếu tố chính, chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ, chỉ dùng để kết nối các thành phần câu, các Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ đoản ngữ với nhau. Tuy vậy, không phải chỉ khi đứng cạnh các yếu tố trung tâm hoặc nối kết các câu với nhau chúng mới mang nghĩa. VD: Những cái bàn bằng gỗ. “Những” là hư từ chỉ số nhiều.
Thử thay thế “những” bằng số từ là 3 (chiếc bàn) thì danh từ vẫn là số nhiều. Như vậy chứng tỏ, không phải quan hệ giữa “những” và “cái bàn” quy định nét nghĩa số nhiều của “những”. Sở dĩ “những” mang nét nghĩa số nhiều chính là vì nó đối lập với “một” (số ít). Hư từ mặc dù không lớn về số lượng trong hệ thống từ loại tiếng Việt nhưng tần số sử dụng lại khá cao.
Như trên đã nói, khi tham gia tổ chức câu, hư từ còn mang vào câu những nét nghĩa bổ sung, còn gọi là nghĩa tình thái (theo Hoàng Trọng Phiến trong [15, 8]). Theo ông, về mặt triết học, quan hệ cũng là nghĩa. Đó là khái niệm về sự liên hệ và quan hệ giữa các sự vật mà các từ biểu thị. Chẳng hạn: quan hệ đồng thời: Anh cùng em đi trên đường cách mạng; quan hệ sở hữu: Đất nước của chúng ta, đất nước của những người không bao giờ chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào; quan hệ điều kiện – kết quả: Có làm thì mới có ăn.
Nghĩa quan hệ của các hư từ thuộc vào phạm trù trừu tượng, nghĩa lập luận logic. Tác dụng Hoàng Trọng Phiến [15, 11-17] có chỉ ra những tác dụng của hư từ: - Gắn kết các đơn vị tham gia cấu tạo câu với các quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp khác nhau. VD: Vâng, đã từ bao nhiêu năm rồi, dễ thường cũng phải 45 năm thì phải. Phát ngôn có “dễ thường… thì phải” tạo nên kết cấu câu biểu hiện nghĩa phỏng đoán với nghĩa “rất có thể là như vậy”.
Trịnh Kim Ngọc K50A Cao học Ngôn ngữ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ - Đánh dấu nghĩa hàm ý trong lời nói: Chẳng hạn, hư từ “à… thì” tạo nên một tầng nghĩa sâu của câu: “Mẹ thằng bé mà còn thì nó đã không đến nối khổ”. - Hư từ có tác dụng tu từ, thể hiện: + Tạo nhịp điệu, tạo sự uyển chuyển cân đối câu thơ. + Tăng cường hiệu lực ngôn trung biểu đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ của chủ thể phát ngôn. + Nhờ dùng các kết cấu hư từ mà một nội dung tình thái chủ quan của câu nói được biểu hiện bằng các phát ngôn khác nhau.