Chương I làm rõ các nội dung sau: Sự hình thành và phát triển khái niệm DLXH; Chỉ báo đo lường DLXH; Quá trình hình thành DLXH; các chỉ báo đo lường BVMT; nghiên cứu DLXH về BVMT ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam; với mục đích xác định khái niệm, công cụ nghiên cứu và các khoảng trống nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đó chưa giải quyết được. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM DƯ LUẬN XÃ HỘI Khái niệm DLXH xuất hiện lần đầu tiên trong lĩnh vực triết học vào thế kỷ XVIII. Khái niệm DLXH tương đối khác nhau và được phát triển bởi các nhà khoa học xã hội trên thế giới theo chu trình thời gian [48]. Cụ thể như: Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) là người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ dư luận với tác phẩm L’opinion publique viết vào năm 1774, tác giả nhấn mạnh đến khía cạnh chính trị của dư luận hơn là khía cạnh xã hội [80].
Vào thế kỷ XIX, Wiliam Alexander Makinnon (1784-1870) nêu quan điểm “Dư luận có thể được coi là dạng tình cảm ở bất cứ chủ thể nhất định nào. Chúng được quan tâm bởi những người có hiểu biết nhất, thông minh nhất và có đạo đức nhất trong cộng đồng. Chúng dần dần lan truyền và được chấp nhận bởi hầu hết mọi người ở các trình độ giáo dục và trong cảm xúc riêng tư trong một quốc gia văn minh” [74, tr 23 ]. Abbot Lawrence Lowell (1856-1943) đã viết “Dư luận có thể được xác định như là sự chấp nhận của một trong hai hay nhiều hơn nữa các quan điểm trái ngược nhau, chúng có thể được chấp nhận bởi ý nghĩ hợp lý xem đó như một sự thực” [58, tr 8 ].
Theo Young (1923), DLXH (public opinion) là “Sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh 20 luận công khai”. Trong số đầu tiên của Tạp chí “The Public Opinion Quartely” năm 1937, Floyd H. Cũng có định nghĩa khác của Childs (1956) về DLXH như “DLXH là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được. Steinberg Charles S (1958) cho rằng “DLXH là sự biểu lộ của tập thể về ý kiến của nhiều cá nhân giới hạn trong một nhóm bởi các mục tiêu, khát vọng, nhu cầu và ý tưởng chung.
Hơn nữa, việc xác định ý kiến của các nhóm hoặc cộng đồng được các chuyên gia đo lường nghiên cứu theo các nhóm trái chiều của ý kiến cá nhân” [82]. Valdimer Orlando Key (1908-1963) cho rằng “DLXH là những ý kiến được nắm giữ bởi những con người cá nhân, điều mà các chính phủ tìm thấy và cần sự lưu ý thận trọng, khôn ngoan”.Bardes và Robert W. 21 Ở Việt Nam, trong quan điểm Nho giáo và xã hội thời phong kiến chưa có khái niệm chính thức về DLXH. Các học giả, nhà tư tưởng thời điểm này chỉ nói đến những khái niệm, thuật ngữ như “lòng dân”, “ý dân”, “dân là gốc”.
Quan điểm về DLXH thời kỳ này có thể được đánh giá thông qua quan điểm về vai trò của người dân trong đời sống chính trị - xã hội. Chẳng hạn trong sách Thượng thư có viết: “dân vi bang bản”; Mạnh Tử nói: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” [23, tr 8]. Hiện nay, trong quan niệm, định nghĩa về DLXH của các nhà khoa học cũng như những người có quan tâm đến khái niệm DLXH cũng còn nhiều điểm rất khác nhau. Đặc biệt khi bàn về “DLXH là ý kiến của cá nhân hay DLXH là ý kiến của đa số? ” cũng có sự tranh luận giữa các nhà khoa học.
Một số học giả quan niệm chỉ có ý kiến của đa số mới được coi là DLXH. Tuy nhiên, một số học giả khác lại cho rằng DLXH bao gồm các ý kiến không chỉ của đa số mà còn cả của thiểu số. Cụ thể là vào năm 1995, tác giả Mai Quỳnh Nam đã đưa ra định nghĩa về DLXH là: “DLXH là sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ đang tồn tại [32, tr 2 ]. Năm 1999, tác giả Phạm Chiến Khu định nghĩa DLXH là: “DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự”[ 57, tr1 ].
Tác giả đã nhấn mạnh phải lưu ý đến các nội hàm sau: mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến; DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…); DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định; chỉ có những sự kiện, hiện 22 tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH. Năm 2002, tác giả Lê Ngọc Hùng định nghĩa “Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội đặc biệt biểu hiện thái độ, tình cảm, nhận thức, quan niệm và xu hướng hành động của nhóm xã hội đối với vấn đề đặt ra trong cuộc sống” [24, tr 2]. Tác giả Nguyễn Quý Thanh (2006) trong cuốn xã hội học về DLXH đã viết:“DLXH có tính chất đánh giá về các vấn đề xã hội mà nhóm công chúng cảm thấy có ý nghĩa với họ hoặc là vấn đề đó động chạm đến lợi ích chung, các giá trị chung” [48, tr 34 ]. Năm 2011, tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng:“Dư luận - đó là hệ thống những luồng ý kiến, phán xét, đánh giá về những tình huống cụ thể, được hiểu và đánh giá của nhận thức quần chúng ngày hôm nay, và của những khái niệm xuất hiện gắn với những tình huống trên vì mục đích gì và bằng cách nào cần phải thay đổi, điều chỉnh hay duy trì trật tự thực tại đang diễn ra”[18, tr 2 ].
Năm 2014, tác giả Lương Khắc Hiếu định nghĩa về DLXH trong cuốn sách “Nghiên cứu và định hướng DLXH” là: “DLXH là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định” [23, tr 36]. Bùi Phương Đình định nghĩa “Dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá thể hiện thái độ và kỳ vọng của các nhóm xã hội đối với các vấn đề đang diễn ra trong xã hội có liên quan đến lợi ích và giá trị của họ; dư luận xã hội được hình thành qua các cuộc trao đổi thảo luận công khai đối với các vấn đề quan tâm [20, tr 84]. Tổng quan về lịch sử phát triển khái niệm DLXH cho thấy một thực tế là khái niệm này khá phong phú và đa dạng. Có rất nhiều khái niệm DLXH được đưa ra dựa trên các cách tiệp cận khác nhau.
Tuy nhiên, vấn đề tranh luận hiện nay giữa các khái niệm là DLXH thuộc về ý kiến của thiểu số hay 23 thuộc về ý kiến của đa số mới được coi là DLXH. Tùy từng thể chế chính trị, bối cảnh xã hội DLXH được đặt vào đúng mục đích, tổn chỉ của xã hội đó, lúc đó sẽ có cách hiểu riêng về DLXH. HỆ THỐNG CÁC CHỈ BÁO ĐO LƯỜNG DƯ LUẬN XÃ HỘI Các nghiên cứu về DLXH thường được các nhà khoa học sử dụng bởi các chỉ báo khác nhau để đo lường. Việc sử dụng các chỉ báo đo lường DLXH phụ thuộc vào các hướng tiếp cận nghiên cứu cũng như từng chủ đề nghiên cứu.
Phillip Converse (1964) cho rằng DLXH bao gồm 2 luồng ý kiến đến từ giới thượng lưu và công chúng. Cụ thể là giới thượng lưu thì có hiểu biết sâu sắc về các vấn đề của công cộng, luồng ý kiến đại chúng thì có sự hiểu biết ít hơn về các vấn đề của cộng đồng [77]. Daniels và Jon A. Elliott, Regens và Seldon (1995) đã nghiên cứu “DLXH có phụ thuộc vào yếu tố kinh tế hay không”? Tác giả đã dựa trên các chỉ báo đo lường DLXH bao gồm: thái độ, niềm tin, sự kỳ vọng của nhân dân, tác giả đã phân tích yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến thái độ, niềm tin, sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân.
Edward Maguire, Devon Johnson (2015) tiến hành nghiên cứu DLXH trong chính sách tội phạm, nghiên cứu trường hợp tại 7 quốc gia vùng Caribe, tác giả sử dụng 01 chỉ báo thái độ để đo lường DLXH [65]. Ở Việt Nam, vào năm 2002, trên tạp chí Tâm lý học, số 4, tác giả Lê Ngọc Hùng đã viết bài “Dư luận: bản chất và một vài vấn đề trong phương pháp nghiên cứu”, tác giả đã cho rằng DLXH được đo lường bằng 3 chỉ báo cơ bản đó là: nhận thức, thái độ và xu hướng hành động của các tầng lớp nhân dân [24, tr 3]. Tác giả Nguyễn Quý Thanh (2006) trong cuốn sách “xã hội 24 học về DLXH” cho rằng dư luận được hình thành trên cơ sở tương tác các ý kiến cá nhân. Các ý kiến cá nhân hình thành trên cơ sở tâm thế, thái độ của họ, do đó, nếu xét theo chiều cạnh về “chất” thì DLXH gồm 3 thành phần: tình cảm, duy lý và ý chí.
Trong đó, thành tố ý chí thể hiện cam kết hành động của DLXH theo sự dẫn dắt của thành tố tình cảm và thành tố duy lý. Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Quý Thanh cũng nêu rõ cấu trúc của 2 khái niệm có sự liên quan chặt chẽ đến DLXH là: thái độ và niềm tin. Cấu trúc của niềm tin bao gồm trọng tâm và cường độ; cấu trúc của thái độ bao gồm tri thức, tình cảm và hành vi [48]. Tác giả Phạm Chiến Khu (2006) cho rằng DLXH bao gồm các luồng ý kiến khác nhau về một vấn đề.
Có sự khác nhau giữa các luồng ý kiến về các vấn đề công cộng trong xã hội, luồng ý kiến đồng tình, luồng ý kiến phản đối [57].