Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài luận văn thạc sĩ Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình do học viên Phạm Thị Hồng Nhung thực hiện (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số: 602201, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Trí Dõi) xuất phát từ vị trí đặc biệt của địa danh học trong mối liên hệ liên ngành giữa ngôn ngữ, lịch sử, địa lý và văn hóa.
Về mặt thực tiễn và lý luận, tác giả khẳng định nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết nhằm làm sáng tỏ các quy luật hình thành, phát triển của từ vựng ngôn ngữ một vùng miền, đồng thời phản ánh đời sống văn hóa, xã hội và lịch sử tộc người. Về mặt địa bàn, Ninh Bình là vùng đất cố đô từng ghi dấu ấn lịch sử qua kinh đô Hoa Lư thời Đinh – Tiền Lê, nằm ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và miền núi phía Tây Bắc, giữa miền Bắc và miền Trung. Trước đó, trong khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả đã tiến hành khảo sát địa danh hai xã Trường Yên và Ninh Hải thuộc huyện Hoa Lư nhưng mới dừng lại ở mức độ miêu tả đơn thuần. Luận văn cao học này được triển khai nhằm đi sâu khảo sát một cách có hệ thống về nguồn gốc ngôn ngữ, cấu tạo và ý nghĩa của địa danh chỉ các đơn vị cư trú trên toàn địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Tập trung nghiên cứu về mặt cấu tạo và ý nghĩa của địa danh cư trú tại Ninh Bình (tên gọi các xã, phường, thị trấn, thôn, xóm, bản, phố, đội).
- Khảo sát các quy tắc định danh hành chính, điều kiện ra đời, phát triển và biến đổi của địa danh, phương thức đặt tên và nội dung các yếu tố cấu thành.
- Xác định các đặc điểm truyền thống của địa danh địa phương, từ đó vạch ra tiêu chí phục vụ công tác đặt địa danh mới, chuẩn hóa địa danh hoặc chuyển đổi địa danh thành vật danh.
- Góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ học thông qua việc nhận diện các lớp từ cổ không còn sử dụng trong đời sống hiện đại, xác định ý nghĩa từ ngữ địa phương, biến đổi ngữ âm, cách viết và giải quyết các tranh luận về nguồn gốc từ nguyên.
- Cung cấp cứ liệu cho các ngành Dân tộc học, Lịch sử học, Văn hóa học và Địa lý học; phục vụ tư liệu cho công tác giáo dục truyền thống và tình yêu quê hương đất nước.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tên gọi của các đơn vị cư trú bao gồm cấp xã, phường, thị trấn và cấp thôn, phố, xóm, bản được ghi lại trong các tài liệu đã công bố cũng như thu thập qua thực địa. Phạm vi không gian được khoanh vùng trong toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Ninh Bình; phạm vi thời gian được tiếp cận đa chiều dựa trên cả hai trục đồng đại và lịch đại, phản ánh quá trình hình thành và biến đổi của địa danh qua các thời kỳ lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của luận văn dựa trên nền tảng địa danh học (Toponymy) thuộc ngành danh xưng học (Onomasiologie) trong từ vựng học ngôn ngữ. Tác giả tổng thuật các định nghĩa địa danh học kinh điển của các học giả quốc tế như Iu. Superanskaja, E. Murzaev, cũng như các nhà nghiên cứu trong nước như Nguyễn Văn Âu, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Đinh Xuân Vịnh. Luận văn tiếp thu quan điểm của Iu. Superanskaja và Lê Trung Hoa để xác định nội hàm địa danh: địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất (bao gồm đối tượng tự nhiên và đối tượng nhân tạo thiên về không gian hai chiều). Luận văn loại trừ các công trình xây dựng thiên về không gian ba chiều (như chùa, nhà thờ, trường học) vào phạm trù hiệu danh.
Về tiêu chí phân loại, tác giả lựa chọn mô hình phân loại của Lê Trung Hoa làm cơ sở chính, kết hợp hai tiêu chí:
- Phân loại theo tính chất đối tượng địa lý: Địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (địa hình) và địa danh chỉ đối tượng nhân tạo (công trình không gian hai chiều, đơn vị hành chính, vùng).
- Phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên: Địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh bắt nguồn từ các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và địa danh ngoại ngữ.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ qua các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp điền dã ngôn ngữ học: Trực tiếp điều tra khảo sát tại địa bàn, phỏng vấn nhân dân địa phương, cán bộ cơ sở và khai thác gia phả, tư liệu ghi chép của các dòng họ lâu đời; đối chiếu và kiểm định vị trí địa danh trên bản đồ.
- Phương pháp quy nạp: Tổng hợp, phân tích các dữ liệu thực tế thu thập được để rút ra các nhận định khái quát về quy luật cấu tạo và định danh.
- Thao tác thống kê ngôn ngữ học: Kết hợp thống kê định lượng và định tính để phân loại, lập bảng tần số xuất hiện, xử lý số liệu địa danh theo nguồn gốc, cấu trúc và ý nghĩa.
- Phương pháp liên ngành và so sánh – lịch sử: Vận dụng tri thức của Lịch sử học, Địa lý học, Dân tộc học, Văn hóa học kết hợp phương pháp ngôn ngữ học so sánh – lịch sử của GS. Hoàng Thị Châu và GS. Trần Trí Dõi nhằm truy nguyên từ nguyên và diễn biến ngữ âm lịch sử.
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ ba nguồn tư liệu chính:
- Nguồn tư liệu điền dã: Thu thập trực tiếp tại các thôn, xóm, bản, xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Nguồn tư liệu thành văn: Các bộ sử học và địa chí cổ như Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Đại Nam nhất thống chí, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (Dương Thị The – Phạm Thị Thoa dịch), Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ (Ngô Vi Liễn); các công trình nghiên cứu hiện đại như Đất nước Việt Nam qua các đời (Đào Duy Anh), Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945–2002 (Nguyễn Quang Ân), Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên (Phạm Tử Mẫn), Địa chí Ninh Bình (Viện Khoa học Xã hội và UBND tỉnh Ninh Bình, 2009), Di tích và danh thắng Ninh Bình (Lã Đăng Bật – Phạm Đình Nhân, 2002), Cố đô Hoa Lư (Lã Đăng Bật, 2005).
- Nguồn tư liệu bản đồ: Hệ thống bản đồ địa hình và bản đồ địa giới hành chính qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một vài giới thiệu chung về địa danh học và tỉnh Ninh Bình
Chương 1 xây dựng cơ sở lý luận của chuyên ngành Địa danh học và phác thảo diện mạo tự nhiên, lịch sử, hành chính của tỉnh Ninh Bình. Tác giả luận giải các khái niệm cốt lõi:
- Nguồn gốc thuật ngữ toponymy xuất phát từ tiếng Hy Lạp (topos: địa điểm, onoma/onyma: tên gọi).
- Ba thuộc tính bản chất của địa danh: là tên gọi đối tượng địa lý chịu sự chi phối của quy luật ngôn ngữ; có chức năng định danh, cá thể hóa và khu biệt đối tượng; đối tượng được định danh phải có vị trí xác định trên bề mặt trái đất.
- Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học: Cung cấp bằng chứng xác thực cho Dân tộc học (về phân bố cư dân bản địa như Mường, Thái qua các thành tố chung: đẩm, bái, lao tại Nho Quan; dak, ea, krông, sóc ở các vùng miền khác); hỗ trợ Lịch sử học trong việc phục nguyên không gian địa lý cổ xưa; liên kết chặt chẽ với Địa lý học và Bản đồ học; đóng góp tư liệu nghiên cứu lịch sử ngữ âm, từ vựng học tiếng Việt.
Phần giới thiệu về tỉnh Ninh Bình trình bày chi tiết về điều kiện tự nhiên và quá trình thay đổi địa giới hành chính qua các thời kỳ:
- Vị trí địa lý: Nằm ở rìa phía Tây của cực Nam đồng bằng Bắc Bộ; phía Tây và Tây Nam giáp các huyện Thạch Thành, Hà Trung, Nga Sơn và thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hóa); là cửa ngõ giao lưu huyết mạch Bắc – Nam qua Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, cách Hà Nội 90 km.
- Diện tích và dân cư: Diện tích tự nhiên toàn tỉnh theo số liệu thống kê được nêu là 1.386,77 km² (văn bản có dẫn số liệu 13.873 km²), dân số năm 2005 là 915.727 người, mật độ dân số đạt 637 người/km².
- Lịch sử biến đổi địa danh và địa giới hành chính:
| Thời kỳ lịch sử | Tên gọi hành chính và địa giới tương ứng |
|---|---|
| Thời cổ - Nhà Tần (246–207 TCN) | Thuộc đất Nam Giao; thời Tần thuộc Tượng quận |
| Thời Hán (206 TCN – 220 SCN) | Huyện Vô Công (hoặc Vô Thiết) thuộc quận Cửu Chân và huyện Câu Lậu thuộc quận Giao Chỉ |
| Thời Ngô (220–265), Tấn (265–420) | Huyện Kiến Sơ, quận Cửu Chân, châu Giao |
| Thời Tùy - Đường - Hậu Lương (581–923) | Huyện Văn Dương thuộc Trường Châu (thủ phủ đóng tại Trấn Tĩnh Giang) |
| Thời Đinh - Tiền Lê (968–1010) | Kinh đô Đại Cồ Việt, thuộc châu Đại Hoàng (một trong 10 đạo của cả nước) |
| Thời Lý (1010) | Vua Lý Thái Tổ đổi Hoa Lư thành phủ Trường Yên; sau gọi là châu Đại Hoàng |
| Thời Trần | Phủ Trường An và giang lộ Đại Hoàng; một phần đất thuộc châu Ninh Hóa (Tuyên Hóa) gồm 3 huyện Xa Lai, Xích Thổ, Khôi |
| Thời Lê Sơ (1428–1527) | Gồm 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan (lệ thuộc Thanh Hóa thừa tuyên hoặc Sơn Nam thừa tuyên) |
| Năm Gia Long thứ 5 (1806) | Thanh Hóa ngoại trấn đổi thành đạo Thanh Bình, do Quản đạo và Tham hiệp đứng đầu, lệ thuộc Thanh Hóa nội trấn |
| Năm Gia Long 9–12 (1810–1813) | Đạo Thanh Bình gồm 2 phủ (Trường Yên, Thiên Quan), 6 huyện, 41 tổng, 261 xã thôn (riêng huyện Gia Viễn có 12 tổng, 84 xã phường) |
| Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) | Phủ Trường Yên đổi tên thành Yên Khánh (hoặc Trường Khánh) |
| Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) | Đạo Thanh Bình đổi tên thành đạo Ninh Bình |
| Năm Minh Mạng thứ 10 (1829) | Đổi thành trấn Ninh Bình; thành lập huyện mới Kim Sơn từ đất phía Đông Nam huyện Yên Mô; trấn Ninh Bình có 7 huyện, trực thuộc Bắc Thành |
| Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) | Chính thức thành lập tỉnh Ninh Bình |
| Năm 1906 (thời Pháp thuộc) | Thành lập huyện Gia Khánh từ 4 tổng của huyện Gia Viễn và 4 tổng của huyện Yên Khánh; tỉnh gồm 2 phủ (Yên Khánh, Nho Quan), 7 huyện |
| Tháng 12/1949 | Tỉnh Ninh Bình thuộc Liên khu 3, có 6 huyện (Gia Khánh, Yên Mô, Gia Viễn, Nho Quan, Yên Khánh, Kim Sơn) với 135 xã |
| Năm 1951 | Tái lập tỉnh Ninh Bình (tỉnh loại 2) theo Nghị định số 465 PTH-NĐ của Thủ hiến Bắc Việt |
| Ngày 27/12/1975 | Hợp nhất tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh (khu vực Ninh Bình có 6 huyện và 1 thị trấn Tam Điệp) |
| Ngày 26/12/1991 | Tái lập tỉnh Ninh Bình trên cơ sở chia tách tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 7 đơn vị hành chính (TX Ninh Bình, TX Tam Điệp, các huyện Hoa Lư, Tam Điệp, Gia Viễn, Hoàng Long, Kim Sơn), diện tích 1.386,77 km², dân số 787.517 người |
| Ngày 07/02/2007 | Thành lập Thành phố Ninh Bình theo Nghị định số 19/2007/NĐ-CP (gồm 10 phường và 4 xã); toàn tỉnh đạt 8 đơn vị hành chính cấp huyện (1 TP, 1 TX, 6 huyện) và 142 xã, phường, thị trấn |
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của địa danh cư trú Ninh Bình
Chương 2 đi sâu khảo sát cấu tạo của toàn bộ kho ngữ liệu gồm 1.349 địa danh cư trú thu thập trên địa bàn tỉnh:
- Cơ cấu nguồn dữ liệu: Khảo sát tên gọi của 140 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn và 1.209 đơn vị dưới cấp xã gồm thôn, xóm, bản, phố, đội.
- Phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ:
- Địa danh cấu tạo từ các yếu tố thuần Việt: Chiếm số lượng lớn ở cấp thôn, xóm, bản gắn liền với tiếng nói sinh hoạt đời thường và địa hình tự nhiên, môi trường bản địa.
- Địa danh cấu tạo từ các yếu tố Hán Việt: Chiếm ưu thế tuyệt đối ở cấp xã, phường, thị trấn và tên chữ của các làng xã cổ truyền, mang tính chất hành chính hóa và văn tự hóa.
- Địa danh kết hợp giữa yếu tố Hán Việt và yếu tố thuần Việt: Thể hiện quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, đan xen giữa tên gọi dân gian truyền khẩu và tên đặt theo phong cách quan phương.
- Địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác: Điển hình là các địa danh có nguồn gốc tiếng Mường tại địa bàn miền núi huyện Nho Quan (như Đẩm, Bái, Lao...).
- Phân tích ví dụ mẫu trong văn bản:
- Thị trấn Yên Thịnh (huyện Yên Mô, thành lập ngày 07/06/1997): Chữ Hán là 安盛 (Yên: yên bình; Thịnh: đông đúc, giàu có). Phương thức cấu tạo được thực hiện bằng cách ghép yếu tố chính trong tên huyện (Yên) với mỹ từ (Thịnh) nhằm thể hiện ước vọng của nhân dân về một cuộc sống thái bình, trù phú.
- Xã Mai Sơn (梅山): Nghĩa là Núi gió (Mai: gió thổi, Sơn: núi). Trước đây xã có tên là Đái Sơn, gồm hai thôn là thôn Mai và thôn Núi (theo Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX của Dương Thị The – Phạm Thị Thoa). Khi đổi tên xã, người dân đã ghép tên hai thôn cũ để tạo thành tên xã mới, trong đó từ thuần Việt "Núi" được Hán hóa thành "Sơn".
- Đặc điểm cấu trúc hình thái - cú pháp: Khảo sát các mô hình kết hợp thành tố chung (danh từ chung chỉ loại hình cư trú như xã, thôn, xóm, bản, phố) với thành tố riêng (địa danh thực thụ mang tính đơn tố hoặc đa tố).
Chương 3: Phương thức định danh và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh cư trú Ninh Bình
Chương 3 luận giải các cơ chế định danh và phân tích tầng ý nghĩa văn hóa - xã hội ẩn chứa trong địa danh cư trú:
- Phương thức định danh:
- Định danh dựa trên đặc điểm địa hình, cảnh quan thiên nhiên và sinh thái (đồi, núi, đầm lầy, rừng cây, dòng chảy như bản Đẩm Rừng, thôn Đồi Khoai, thị trấn Me).
- Định danh dựa trên dấu vết cư trú, lịch sử di dân và ghép nối quê quán gốc (như thôn Nộn Khê do người dân Lục Nộn và Côi Khê thuộc Nam Châu, nay là huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam di cư đến lập ấp, ghép từ tên hai quê cũ).
- Định danh bằng mỹ từ biểu thị ước vọng tâm lý, đạo đức, sự bình an, phát triển (như phường Thanh Bình, thôn Tân Tiến, thôn Vườn Hoa, Yên Thịnh).
- Định danh theo nhân vật lịch sử, sự kiện hoặc niên hiệu.
- Mối liên hệ giữa tên chữ Hán Việt và tên Nôm của các làng xã Ninh Bình:
- Nhóm tên gọi Nôm và tên Hán Việt có quan hệ ngữ nghĩa tương đồng (dịch nghĩa hoặc phỏng âm, Hán hóa từng phần).
- Nhóm tên Nôm được đặt phái sinh dựa vào tên Hán Việt.
- Nhóm tên Nôm và tên Hán Việt hoàn toàn độc lập, không có mối liên hệ ngữ nghĩa trực tiếp, phản ánh hai hệ thống định danh song song: hành chính chính thống và giao tiếp sinh hoạt dân gian.
- Mối quan hệ giữa địa danh cư trú và đặc trưng văn hóa: Địa danh bảo lưu diện mạo lịch sử ngữ âm tiếng Việt cổ, sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Mường, và phản ánh quá trình khai hoang, lập làng, xây dựng hệ thống phòng thủ quân sự qua các biến cố lịch sử của vùng đất cố đô.
Kết quả và đóng góp
Luận văn đạt được các kết quả cụ thể và đóng góp khoa học sau:
- Xây dựng hệ thống ngữ liệu hoàn chỉnh với 1.349 địa danh cư trú trên địa bàn toàn tỉnh Ninh Bình (140 xã, phường, thị trấn và 1.209 thôn, xóm, bản, phố, đội).
- Thống kê, phân loại chi tiết các địa danh theo 2 trục tiêu chí chính: Nguồn gốc ngôn ngữ (thuần Việt, Hán Việt, hỗn hợp, Mường) và cấu trúc hình thái - ngữ pháp định danh.
- Làm sáng tỏ quy luật định danh địa phương: chỉ ra các phương thức tạo lập tên gọi (ghép tên quê cũ, Hán hóa từ thuần Việt, ghép chữ đầu địa danh cấp trên với mỹ từ).
- Giải mã lịch sử ngữ âm, khôi phục nghĩa của các từ cổ, từ địa phương và xác định ranh giới tiếp xúc ngôn ngữ giữa cư dân Việt đồng bằng và cư dân Mường miền núi.
- Cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương chuẩn hóa việc đặt tên, đổi tên các đơn vị hành chính và biên soạn địa chí, từ điển địa danh.
- Về mặt giáo dục và xã hội, kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy lịch sử - văn hóa địa phương trong hệ thống trường học tại tỉnh Ninh Bình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, đề tài tập trung chủ yếu vào nhóm địa danh cư trú (tên làng, xã, thôn, xóm, bản, phố) mà chưa khảo sát toàn diện các nhóm địa danh tự nhiên khác như thủy danh (tên sông, ngòi, hồ, đầm) và sơn danh (tên núi, hang động, đèo) trên địa bàn tỉnh. Các tư liệu giải âm địa danh tiếng Mường tại vùng sâu Nho Quan mới ở bước đầu ghi nhận các từ tố phổ biến.
Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ hệ thống địa danh tự nhiên (sơn danh, thủy danh, lâm danh) để có bức tranh toàn cảnh về địa danh học Ninh Bình.
- Đi sâu nghiên cứu so sánh - lịch sử đối với các tầng trầm tích ngôn ngữ Mường cổ và quá trình Việt hóa địa danh qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ số trong việc lưu trữ, chuẩn hóa hệ thống địa danh toàn tỉnh.
Giá trị tham khảo
Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Học viên, sinh viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Ngôn ngữ học, Địa danh học, Từ vựng học tiếng Việt.
- Giới nghiên cứu Lịch sử, Dân tộc học, Văn hóa học và Địa lý địa phương khi nghiên cứu về vùng đất cố đô Hoa Lư và châu thổ sông Hồng.
- Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, địa chính, Hội đồng đặt - đổi tên đường phố và công trình công cộng tỉnh Ninh Bình.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận văn là hệ thống phân tích ngữ nguyên 1.349 địa danh cư trú, quy trình điều tra điền dã kết hợp thư tịch Hán Nôm và các bảng tổng hợp lịch sử hành chính tỉnh Ninh Bình từ thời cổ đại đến năm 2007.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng số lượng địa danh được khảo sát trong luận văn là bao nhiêu và phân bổ như thế nào?
Luận văn thu thập và khảo sát tổng cộng 1.349 địa danh cư trú ghi bằng tiếng Việt trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, bao gồm 140 đơn vị cấp xã, phường, thị trấn và 1.209 đơn vị cấp thôn, xóm, bản, phố, đội.
2. Tác giả lựa chọn khung lý thuyết phân loại địa danh của học giả nào làm căn bản?
Tác giả tiếp thu và ứng dụng khung lý thuyết phân loại của nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa, kết hợp tiêu chí đối tượng địa lý (tự nhiên/nhân tạo) với tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên (thuần Việt, Hán Việt, ngôn ngữ dân tộc thiểu số, ngoại ngữ).
3. Yếu tố ngôn ngữ dân tộc thiểu số nào xuất hiện nổi bật trong địa danh Ninh Bình?
Đó là các yếu tố thuộc ngôn ngữ Mường, xuất hiện phổ biến tại các địa bàn cư trú lâu đời ở huyện Nho Quan thông qua các thành tố địa danh như Đẩm, Bái, Lao...
4. Địa danh Mai Sơn và Yên Thịnh được tác giả giải thích nguồn gốc định danh như thế nào?
- Thị trấn Yên Thịnh (Yên Mô) được cấu tạo bằng cách ghép chữ Yên (yếu tố chính trong tên huyện Yên Mô) với mỹ từ Thịnh (mang nghĩa đông đúc, giàu có).
- Xã Mai Sơn (nghĩa là Núi gió) được hình thành sau khi đổi tên từ xã Đái Sơn cũ bằng cách ghép tên hai thôn trực thuộc là thôn Mai và thôn Núi, trong đó chữ "Núi" được Hán hóa thành chữ "Sơn".
5. Mốc thời gian chính thức thành lập tỉnh Ninh Bình và thành lập Thành phố Ninh Bình diễn ra vào năm nào?
Tỉnh Ninh Bình chính thức ra đời vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Thành phố Ninh Bình được thành lập theo Nghị định số 19/2007/NĐ-CP ngày 07/02/2007 với 14 đơn vị hành chính trực thuộc (10 phường và 4 xã).
Kết luận
Luận văn Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình của học viên Phạm Thị Hồng Nhung là công trình nghiên cứu hệ thống về 1.349 địa danh cư trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình dưới góc độ Ngôn ngữ học kết hợp liên ngành Văn hóa – Lịch sử – Địa lý. Tác giả đã phân loại rõ ràng cấu tạo, nguồn gốc ngữ nguyên và phương thức định danh của các đơn vị hành chính từ cấp tỉnh, huyện đến thôn, xóm, bản. Công trình góp phần khẳng định giá trị của địa danh học trong việc bảo lưu các hiện tượng lịch sử ngôn ngữ tiếng Việt và làm sáng tỏ diện mạo văn hóa bản địa vùng đất cố đô. Luận văn cung cấp nguồn tư liệu xác thực cho nghiên cứu học thuật cũng như công tác quản lý, chuẩn hóa địa danh hành chính tại địa phương.