Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm cây thuốc Cây thuốc là thực vật được con người dùng làm thuốc hay còn gọi là thảo dược hay thảo mộc. Những cây này có khả năng tổng hợp các hợp chất hóa học hết sức đa dạng được dùng cho các chức năng sinh học quan trọng của cây hoặc được dùng để chống lại côn trùng, nấm và động vật ăn thực vật.
Theo Vũ Minh Tuấn 2009 Bài giảng cây dược liệu. Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng. Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được.
Tài nguyên cây thuốc Tài nguyên cây thuốc là một dạng đặc biệt của tài nguyên sinh vật, thuộc nhóm tài nguyên có thể phục hồi, bao gồm hai yếu tố cấu tạo thành: cây cỏ và tri thức sử dụng chúng để làm thuốc và chăm sóc sức khỏe. Cây thuốc khác với một cây bình thường ở chổ là nó được dùng làm thuốc. * Đặc điểm của cây thuốc Về hình thức sử dụng các cây thuốc được chia thành ba nhóm: - Nhóm cây cỏ được sử dụng trực tiếp - Nhóm cây trước sử dụng qua bào chế - Nhóm cây làm nguyên liệu triết xuất các chất có hoạt tính cao Về chu kỳ sống: - Cây 1 năm - Cây 2 năm - Cây lâu năm Về dạng cây: 3 - Thân thảo - Dây leo Về phân bố: - Trong rừng - Ven suối - Ven đường mòn - Vùng trảng Về bộ phận: - Các cây dược liệu khai thác rễ củ - Các cây dược liệu khai thác thân cành - Khai thác để chưng cất tinh dầu - Khai thác để chưng cất tinh dầu 1. Khái niệm đa dạng sinh học Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đa dạng sinh học 2008, đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên.
Gen là một đơn vị di truyền, một đoạn của vật chất di truyền quy định các đặc tính cụ thể của sinh vật. Hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau. Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong hóa về sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vât, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái mà chúng là thành viên. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học.
Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước Đa dạng sinh học (1992) được coi là đầy đủ và toàn diện nhất xét về mặt khái niệm. Theo Công ước ĐDSH là sự phong phú của cơ thể sống có ở các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài ( đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài ( đa dạng loài), và các hệ sinh thái (đa dạng sinh thái). Đa dạng di truyền được hiểu là sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau. 4 Đa dạng loài là sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau.
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về trạng thái và tần số của các hệ sinh thái khác nhau. Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ Cho đến nay, khái niệm LSNG (tên viết tắt Tiếng Anh là NTFP (Non Timber Forest Products)) được các tài liệu trong và ngoài nước dẫn giải với nhiều khía cạnh khác nhau. Theo Tổ chức Quỹ bảo vệ động thực vật hoang dã thế giới WWF (1989), LSNG bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ đích của con người, bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi. Theo nhà nghiên cứu Wickens (1991) thì LSNG bao gồm tất cả những sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái rừng tự nhiên, rừng trồng, được sử dụng trong gia đình, mua bán, hoặc có giá trị cho tôn giáo, văn hoá hoặc xã hội.
Theo FAO (1995) LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng. 4Theo FAO (1999) LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng các cây bên ngoài rừng. LSNG là những sản phẩm từ sinh vật hoặc có nguồn gốc từ sinh vật, không phải gỗ và các dịch vụ từ sinh vật có được từ hệ sinh thái rừng và đất phục vụ cho mục đích sử dụng của con người. Trong đó nhóm cây thuốc là một trong những nhóm lâm sản ngoài gỗ có giá trị rất lớn về mặt y học cổ truyền giúp ích cho đời sống của con người.
Cây thuốc là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng. Tổng quan tình hình trong nước và trên thế giới 1. Ngoài nước Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng người trên khắp thế giới. Các kinh nghiệm dân 5 gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của các quốc gia.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ. Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua. Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế. Chính vì vậy quốc gia nào cũng có điều tra nguồn tài nguyên thuốc trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình.
Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạch điều tra và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau. Thường tập trung ở các đơn vị tỉnh hoặc cho một hướng tác dụng điều trị nào đó như điều tra cây thuốc có tác dụng chữa sốt rét, tim mạch, viêm gan, rắn cắn. Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc. Khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới.
Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543. Ở Châu Á có 1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc. Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại. Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt.
Như vậy, việc nghiên cứu cây thuốc đã có từ lâu đời, hình thành và phát triển với tiến trình lịch sử của nhân loại. Tuy nhiên, do còn hạn chế của trình độ khoa học nên việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê và chỉ ra công dụng của chúng, chưa có cơ sở khoa học để chứng minh thành phần hóa học của chúng và tham gia vào việc chữa bệnh như thế nào. Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật phát triển thì vấn đề này mới được làm sáng tỏ, tạo độ tin cậy cho người bệnh khi sử dụng. Trong nước Theo IUCN (2004), thì tại Việt Nam hiện có gần 12.000 loài thực vật bậc cao 6 có mạch thuộc hơn 2.256 chi, 305 họ (chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi, 57% tổng số họ thực vật trên thế giới); 69 loài thực vật hạt trần; 12.000 loài thực vật hạt kín; 2.176 loài tảo; 481 loài rêu; 368 loài vi khuẩn lam; 691 loài dương xỉ và 100 loài khác.
Trong đó có 50% số loài thực vật bậc cao là các loài có tính chất bản địa, các loài di cư từ Hymalia - Vân Nam-Quý Châu xuống chiếm 10%, các loài di cư từ Ấn Độ-Myanma sang chiếm 14%, các loài từ Indonesia-Malaysia di cư lên chiếm 15%, còn lại là các loài có nguồn gốc hàn đới và nhiệt đới khác. Trong đó có nhiều loài có giá trị làm thuốc cao. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của nhiều danh y nổi tiếng như: “Nam dược thần hiệu” của Tuyệt Tĩnh (1417) trong đó mô tả tới 579 loài cây làm thuốc; “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đông (Thế kỷ XVI) đã phân chia thực vật thành nhiều loại công dụng khác nhau, trong đó có rất nhiều loài làm thuốc; “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân (1595) trong đó đề cập trên 1000 cây thuốc (Đỗ Tất Lợi, 2003). Thiền Sư Tuệ Tĩnh với bộ “Nam Dược Thần Hiệu viết về 499 vị thuốc Nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc từ thực vật.
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với bộ “Lĩnh Nam Bản Thảo” gồm 2 quyển, quyển thượng chép 496 kế thừa của Tuệ Tĩnh, quyển hạ ghi 305 vị bổ sung về công dụng hoặc mới phát hiện thêm. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về dược liệu trong khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng các loại cây để làm thuốc. Việt Nam có sự đa dạng về chủng loại cây dược liệu (trong số hơn 12.000 loài thực vật thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới như: sâm ngọc linh, sâm vũ diệp, tam thất hoang… (Cục Quản lí dược, bộ Y tế).