CHƯƠNG I MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CHỈ SỐ NIỀM TIN 1.1 CHỈ SỐ NIỀM TIN KINH DOANH 1.1 Chỉ số niềm tin kinh doanh ở Nam Phi (SACCI Business Confidence Index) 1.1 Khái quát về chỉ số niềm tin kinh doanh SACCI BCI Chỉ số niềm tin kinh doanh được tạo ra hàng tháng bởi SACCI (South African Chamber of Commerce and Industry) như là một sự đo lường mức độ của niềm tin kinh doanh trong nền kinh tế Nam Phi. Báo cáo này bao gồm những lời dẫn giải, bình luận về hiện trạng của nền kinh tế cũng như các chỉ số kinh tế khác. Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) của SACCI là một chỉ số liên quan đến thị trường, nó phản ánh không phải những gì doanh nghiệp đang nói mà là những gì doanh nghiệp đang làm và trải nghiệm. Do đó, nó không phải là một ý kiến/chỉ số nền tảng sự nhận thức.
Có khả năng rằng trong bất kỳ một tháng nào tâm trạng kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực bởi sự phát triển khác nhau trong nền kinh tế. BCI tìm kiếm để phản ánh kết quả ròng của các ảnh hưởng này. BCI là một chỉ số tổng hợp của mười ba chỉ số phụ. Các chỉ số kinh tế khác nhau được sử dụng để tạo nên mười ba chỉ số phụ này.
Các chỉ số này được theo dõi và được đánh giá bởi doanh nghiệp có mang tâm trạng kinh doanh. BCI được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1985, đã được điều chỉnh trước đó để BCI với phiên bản mới nhất trong tháng 2 năm 2006. Sự thay đổi mới nhất đến các thành phần của chỉ số giúp nắm bắt được những thay đổi cấu trúc trong nền kinh tế trong nước, có liên quan đến giá cả và sự ổn định tài chính, ảnh hưởng của toàn cầu hóa cũng như sự thay đổi môi trường đến hoạt động doanh nghiệp và ảnh hưởng tới Nam Phi. Sự chuyển động chu kỳ kinh doanh trong các chỉ số phụ rất quan trọng đến mức độ niềm tin kinh doanh.
Từ tháng 2 năm 2006, BCI được tính theo thành phần mới. Để đảm bảo một loạt chỉ số BCI liên tục, thật cần thiết để điều chỉnh các số liệu lịch sử để khắc phục bất kỳ 5 sự khác biệt kỹ thuật và đảm bảo có thể so sánh được trong các con số-chỉ số theo thời gian. Năm cơ sở cho BCI đã được thay đổi từ 2000 đến 2005. Các chỉ số phụ sau đây tạo nên BCI: 1.
Bình quân tỷ giá hối đoái hàng tháng của đồng ran (rand: đơn vị tiền tệ ở cộng hòa Nam Phi) so với đồng đô la Mỹ, euro và Bản Anh cũng như các biến động của tỷ giá hối đoái đồng ran. Tỷ lệ lạm phát tiêu dùng ở thủ đô và khu vực thành phố (Inflation) 3. Tỷ lệ thấu chi thực (Utility Services) 4. Khối lượng doanh số bán lẻ (Retail sales) 5.
Tỷ lệ thay đổi trong việc mở rộng tín dụng thực đến các khu vực tư nhân (Real private sector borrowing) 6. Giá dolla Mỹ trung bình của vàng và bạch kim. Khối lượng hàng hóa nhập khẩu (Imports) 8. Khối lượng hàng hóa xuất khẩu (Exports) 9.
Doanh số bán xe mới (Vehicle sales) 10. Sự thanh lý, đóng cửa của các công ty (Real financing cost) 11. Khối lượng sản phẩm được sản xuất ra (Manufacturing) 12. Giá trị thực của kế hoạch xây dựng khu vực tư nhân đã được thông qua (Construction – buildings) 13.
Chỉ số giá tất cả cổ phiếu của giao dịch chứng khoán JSE (Share prices) 1.2 Kết quả khảo sát niềm tin kinh doanh tháng 09/2011 (xem Phụ Lục 01) 1.2 Chỉ số niềm tin kinh doanh ở Việt Nam (WVB-PVFCInvest BCI) 1.1 Giới thiệu về chỉ số niềm tin kinh doanh Việt Nam Chỉ số niềm tin kinh doanh Việt Nam được công bố chính thức vào ngày 1/10/2008 bởi công ty TNHH Dịch vụ Thông tin Tài Chính World Vest Base Việt Nam (WVB FISL) và công ty Cổ phần Đầu tư và Tư vấn Tài chính Dầu khí (PVFC Invest). Việt nam đang là điểm đến thu hút các nhà đầu tư lớn trên thế giới. Tăng trưởng xuất khẩu và đầu tư vốn nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam đang phản ánh ý nghĩa vô cùng to lớn của nền kinh tế này đối nền kinh tế toàn cầu. Cân nhắc các yếu tố nói 6 trên, thật ngạc nhiên là vẫn chưa có cuộc khảo sát kinh doanh nào theo dõi hướng đi của sự tăng trưởng hay sự thay đổi của môi trường kinh doanh cũng như đo lường và dự báo môi trường kinh tế trong tương lai gần.
Vì vậy, công ty WVB FISL và công ty PVFC Invest đã quyết định khởi xướng việc xây dựng một cuộc khảo sát trong quý III của năm 2008 để đáp ứng yêu cầu cần thiết và có ý nghĩa như trên. Các cuộc khảo sát lần sau sẽ được tiến hành hàng quý của các năm. Công ty WVB FISL và công ty PVFC Invest đã cân nhắc cẩn thận và cuối cùng đã lựa chọn được danh sách các doanh nghiệp tham gia vào cuộc khảo sát. Họ là những doanh nghiệp đứng đầu trong cả nước về thương hiệu, tổng tài sản, tổng doanh thu và số lượng nhân viên thuộc 11 lĩnh vực ngành nghề chủ chốt của Việt Nam.1: Chi tiết 11 lĩnh vực ngành nghề chủ chốt ở Việt Nam Số Số Lĩnh vực kinh doanh Lĩnh vực kinh doanh TT TT 1 Giao Thông Vận Tải, Ô tô, xe máy 7 Điện tử, Điện lạnh Nông Lâm-Ngư nghiệp, Thực phẩm, Máy móc, Thiết bị, Công nghệ 2 Bia, Nước Giải khát 8 Thông tin và Viễn thông Xây dựng, Vật liệu xây dựng, Bất động 3 sản 9 Dầu khí Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Chứng 4 khoán 10 Y tế và Giáo dục 5 Hóa Chất, Hóa mỹ phẩm 11 Thương mại, dịch vụ khác 6 Dệt may, Da giày Nguồn: WVB-PVFCInvest Đơn vị khảo sát cũng đã lựa chọn hơn một nửa số doanh nghiệp trong cuộc khảo sát là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) bởi DNNVV chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp của Việt Nam và đóng vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế nước ta.
Từ kết quả của cuộc khảo sát này, tất cả dữ liệu đã được phân tích vô danh và đã xây dựng nên một chỉ số gọi là Chỉ số Niềm tin Kinh doanh WVB-PVFCInvest (tên tiếng Anh: WVB-PVFCInvest Business Confidence Index (BCI). Chỉ số này được tính toán dựa trên thống kê kết quả của tất cả các câu trả lời của các doanh nghiệp và áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế chứ không áp dụng cho một ngành nghề cụ thể nào. 7 Qua nhiều năm, các cuộc khảo sát về niềm tin kinh doanh của các doanh nghiệp tại các nước phát triển đang được tiến hành định kỳ bởi các lợi ích to lớn mà chúng mang lại. Do đó, chỉ số này tại Việt Nam vì trước hết nó sẽ mang lại lợi ích cho chính bản thân các doanh nghiệp.
Cả doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước hoạt động ở Việt Nam sẽ có thêm một kênh thông tin về tình hình hiện tại của nền kinh tế và dự đoán về tình hình kinh doanh trong thời gian tương lai ngắn hạn. Dựa trên thông tin này, họ có thể so sánh, lập kế hoạch hay ra các quyết định kinh doanh tốt hơn. Nhóm Khảo sát và Nghiên cứu của hai bên công ty WVB FISL & PVFC Invest đã cân nhắc và lựa chọn 06 cấu phần chính được các cuộc khảo sát niềm tin kinh doanh ở các nước khác tập trung nhấn mạnh nhất và cũng phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. 06 cấu phần chính đó là: 1) Điều kiện hiện tại của nền kinh tế 2) Dự đoán điều kiện nền kinh tế 3) Dự đoán mức độ thay đổi về lao động 4) Kế hoạch đầu tư cố định 5) Dự đoán sự tăng trưởng doanh thu 6) Dự đoán sự tăng trưởng lợi nhuận Mỗi cấu phần chính sẽ có một chỉ số phụ.
Các chỉ số phụ này sẽ được tính dưới dạng phần trăm bằng cách lấy tổng số câu trả lời mang tính tích cực trừ đi tổng câu trả lời mang tính không tích cực rồi cộng với 100. Tổng của 6 chỉ số phụ này dưới dạng phần trăm sẽ là Chỉ số niềm tin kinh doanh WVB-PVFCInvest. Có 06 câu hỏi cố định biểu thị cho 06 cấu phần chính tạo nên chỉ số niềm tin kinh doanh được hỏi hàng quý. Bên cạnh đó, các câu hỏi “Chủ đề” khác cũng sẽ được đưa vào bảng hỏi nhằm thu thập ý kiến của doanh nghiệp về các vấn đề mà họ đang quan tâm nhất.
Các câu hỏi chủ đề này sẽ có thể khác nhau theo từng quý tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể nền kinh tế và các yếu tố khác ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Trong 8 cuộc khảo sát lần thứ nhất, có 04 câu hỏi chủ đề được nêu ra liên quan tới dự đoán của doanh nghiệp về năng suất lao động nhân viên, việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng phát triển sản phẩm và dịch vụ mới và hiệu quả chi phí. Ở cuộc khảo sát lần thứ nhất lần này, chỉ số được tạo ra sẽ là chỉ số gốc tính tại quý III năm 2008 có mức điểm là 100. Do đó các chỉ số được thống kê tạo ra trong các cuộc khảo sát lần sau của các quý trong tương lai sẽ được so sánh với chỉ số gốc này.
Nếu chỉ số tương lai nhỏ hơn 100 sẽ dự báo xu thế giảm đi của của nền kinh tế và ngược lại nếu lớn hơn 100 sẽ dự báo xu thế phát triển của nền kinh tế.2 Kết quả khảo sát chỉ số niềm tin kinh doanh Quý 3/2011 (xem phụ lục 02) 1.2 CHỈ SỐ NIỀM TIN TIÊU DÙNG 1.1 Chỉ số niềm tin tiêu dùng ở Mỹ (The Conference Board Consumer Confidence Index- CCI) Niềm tin tiêu dùng, được đo bởi chỉ số niềm tin tiêu dùng (CCI), được định nghĩa như là mức độ lạc quan về tình trạng của nền kinh tế mà người tiêu dùng (như bạn và tôi) đang thể hiện thông qua các hoạt động về tiết kiệm và chi tiêu. CCI được sáng lập bởi Conference Board, và lần đầu tiên được tính vào năm 1985. Trong năm đó kết quả của chỉ số tự đặt ra là 100, đại diện cho điểm chuẩn của chỉ số. Giá trị này được điều chỉnh hàng tháng trên cơ sở của một cuộc khảo sát ý kiến tiêu dùng của hộ gia đình về điều kiện hiện tại và kỳ vọng tương lai của nền kinh tế.
Ý kiến về điều kiện hiện tại chiếm 40% của chỉ số, với kỳ vọng về điều kiện tương lai bao gồm 60% còn lại.