phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Dịch vụ cho thuê tài chính - vai trò của nó trong hệ thống tín dụng và trong phát triển kinh tế thị trƣờng. 10 z Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ cho thuê tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua (1995- 2008). Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển dịch vụ cho thuê tài chính trong thời gian tới. 11 z Chƣơng 1 DỊCH VỤ CHO THUÊ TÀI CHÍNH- VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.
Những lý luận cơ bản về cho thuê tài chính 1. Khái niệm cho thuê tài chính Hiện nay, có hàng chục khái niệm cho thuê tài chính đƣợc điều chỉnh từ hai nguồn luật: nguồn luật quốc gia và nguồn luật quốc tế. Ở Việt Nam, khái niệm cho thuê tài chính đƣợc dẫn chiếu bởi hai văn bản pháp lý sau: Thứ nhất, tại Nghị định 16/2001/NĐ- CP ban hành ngày 02/05/2001 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, khoản 1 điều 1 ghi: cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê.
Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận. Thứ hai, theo Chuẩn mực số 06 “Thuê tài sản” đƣợc ban hành theo Quyết định 165 của Bộ Tài chính (165/2002/QĐ- BTC ngày 31/12/2002 về việc ban hành sáu chuẩn mực kế toán) định nghĩa cho thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Còn theo Ủy ban về chuẩn mức kế toán quốc tế - IACS (International Accounting Standard Committee), chuẩn mực 17 (IAS 17) định nghĩa: cho thuê tài chính là giao dịch trong đó một bên (người cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (người đi thuê) 12 z trong thời hạn nhất định, trong thời gian này người cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ cùng các chi phí liên quan khác; quyền sở hữu có được chuyển giao hay không tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai bên.
Nhƣ vậy, về cơ bản, cho thuê tài chính là hình thức tài trợ tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cung cấp tài sản cho thuê không có yêu cầu về thế chấp đối với bên đi thuê. Do vậy, giao dịch CTTC là một giao dịch không huỷ ngang mà nội dung của nó là sự chuyển quyền sử dụng tài sản từ bên thuê cho bên cho thuê trong một thời hạn nhất định có tính phí; quyền sở hữu tài sản cũng có thể chuyển giao khi hợp đồng cho thuê tài chính chấm dứt tùy theo sự thoả thuận của hai bên hợp đồng. Hai khái niệm CTTC của Việt Nam vừa nêu trên nhìn chung là phù hợp với chuẩn mực quốc tế về bản chất. Tuy nhiên, một khái niệm đƣợc dẫn chiếu cùng lúc đến hai văn bản pháp lý đã cho thấy sự không thống nhất về mặt hình thức.
Hơn thế nữa cả hai khái niệm này đều bộc lộ những hạn chế; và chính những hạn chế này đã phần nào cản trở trong quá trình xúc tiến dịch vụ CTTC ở Việt Nam. Khái niệm CTTC ở khoản 1 điều 1 của Nghị định 16 vô hình chung đã giới hạn đối tƣợng CTTC (tài sản thuê) chỉ là động sản. Ngƣời cho thuê là chủ sở hữu tài sản thuê, nên không thể áp dụng hình thức CTTC giáp lƣng - là hình thức CTTC mà trong đó, đƣợc sự đồng ý của bên cho thuê, bên đi thuê thứ nhất cho bên đi thuê thứ hai thuê lại tài sản mà mình đã thuê từ bên cho thuê. CTTC giáp lƣng là cần thiết để đảm bảo tính lƣu thông trên thị trƣờng CTTC.
Cách diễn đạt dài dòng về khái niệm CTTC tại điều 1 của Nghị định này mang tính chất liệt kê một quy trình CTTC; nhƣng lại không phản ánh đầy đủ nội dung của một giao dịch CTTC. Ví dụ nhƣ, vấn để chuyển quyền sở hữu tài sản thuê từ ngƣời cho thuê sang ngƣời đi thuê vào thời điểm kết thúc thời hạn thuê tài sản không đƣợc nêu ra ngay ở khoản 1, mà lại tách ra và đề 13 z cập ở khoản 2 điều 1: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Ngƣợc lại, khái niệm CTTC theo chuẩn mực số 06 lại chỉ đề cập đến đặc trƣng cơ bản của giao dịch CTTC là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản thuê; việc mô tả nhƣ vậy dẫn đến sự khó hiểu, trừu tƣợng và khó định hình thế nào là một giao dịch CTTC.
Vậy, có thể định nghĩa CTTC là một loại hình tín dụng trung và dài hạn không hủy ngang, có đối tượng là tài sản, trong đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng và hầu hết lợi ích và rủi ro cho bên đi thuê theo thời hạn đã thỏa thuận. Khi hết hạn cho thuê quyền sở hữu tài sản có được chuyển giao hay không tùy thuộc vào thỏa thuận giữa hai bên. Khi phân tích khái niệm cho thuê tài chính cũng cần phân biệt khái niệm CTTC (financial leasing) với cho thuê vận hành(operating leasing) vì cả hai giao dịch này đều là quan hệ cho thuê và đối tƣợng là tài sản. Cho thuê vận hành (hay còn gọi là cho thuê hoạt động) là hình thức thuê ngắn hạn tài sản.
Đặc trƣng cơ bản để phân biệt giữa cho thuê tài chính với cho thuê vận hành là, trong cho thuê vận hành không có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho ngƣời thuê. Cho thuê hoạt động, về mặt lịch sử là giai đoạn phát triển cao hơn CTTC, thị trƣờng cho thuê vận hành có mức độ cạnh tranh và tính chất chuyên môn hóa cao hơn. Trong hình thức cho thuê vận hành, ngƣời cho thuê đồng thời phải cung cấp dịch vụ bảo trì bảo dƣỡng tài sản. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới tài sản cố định trong điều kiện tốc độ hao mòn vô hình của tài sản cố định tăng lên không ngừng, cho thuê vận hành có tính chất ngắn hạn, ngƣời thuê có thể trả lại tài sản khi chƣa hết thời hạn thuê (giao dịch có tính chất hủy ngang).
14 z Ngoài ra, còn có các tiêu chí khác để phân biệt hai loại hình cho thuê này (xem Bảng 1. Đặc điểm của dịch vụ cho thuê tài chính Nhìn chung, một giao dịch cho thuê tài chính bao gồm các nội dung, đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, cho thuê tài chính là loại hình tín dụng trung, dài hạn không hủy ngang mà vật thế chấp chính là tài sản cho thuê; tỷ lệ tài trợ tín dụng có thể lên đến 100% trị giá của tài sản thuê. Khác với các hình thức cấp tín dụng khác mà theo đó, tổ chức tín dụng chuyển giao một khoản tiền, trong hình thức cấp tín dụng cho thuê tài chính, tổ chức tín dụng (bên cho thuê) tiến hành cấp tín dụng bằng cách chuyển giao cho khách hàng (bên thuê) một tài sản cụ thể (máy móc, dây chuyền sản xuất, phƣơng tiện vận tải,.) để bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định. Bên thuê có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền thuê theo thoả thuận.
Tính chất thanh toán trọn vẹn của giao dịch cho thuê tài chính cho thấy bản chất tín dụng của hoạt động này. Tổ chức tín dụng đƣợc bảo đảm về khả năng hoàn trả của khách hàng đối với khoản tín dụng đã chuyển giao thông qua quyền nhận tiền thuê. Cũng tƣơng tự nhƣ pháp luật một số quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam ghi nhận cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, phù hợp với đặc điểm của đối tƣợng cho thuê là những động sản có giá trị, thời gian cần thiết để khấu hao thƣờng từ một năm trở lên.1: Phân biệt CTTC và cho thuê vận hành Tiêu chí phân loại Cho thuê tài chính Cho thuê vận hành Bên cho thuê Cty CTTC cho thuê trên cơ sở Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào bên thuê lựa chọn tài sản từ có đủ năng lực chủ thể và tài nhà cung ứng và qua đó hình sản cho thuê có sẵn của mình, thành nên hai hợp đồng: HĐ trên cơ sở đó hai bên ký kết cho thuê và HĐ mua bán hợp đồng cho thuê vận hành (giữa bên cho thuê và nhà cung ứng tài sản) Thời hạn thuê Dài hạn: chiếm phần lớn thời Ngắn hạn: thƣờng chiếm một gian hữu dụng của tài sản tỷ lệ nhỏ so với toàn bộ thời (economic life) gian hữu dụng của tài sản Tính chất hợp đồng Hợp đồng CTTC là hợp đồng Hợp đồng cho thuê vận hành không hủy ngang là hợp đồng hủy ngang Tiền thuê tài sản Hiện giá của các khoản tiền Hiện giá của các khoản tiền thuê ít nhất là tƣơng đƣơng thuê nhỏ hơn nhiều so với giá với giá trị thị trƣờng của tài trị thị trƣờng của tài sản tại sản tại thời điểm bắt đầu hợp thời điểm bắt đầu hợp đồng đồng CTTC cho thuê vận hành Các chi phí bảo Do bên đi thuê chịu Do bên cho thuê chịu hiểm, bảo dƣỡng và rủi ro liên quan đến tài sản Phƣơng thức hạch Bên cho thuê hạch toán Bên đi thuê hạch toán toán tài sản thuê Chuyển giao quyền Có thể đƣợc thực hiện vào Hợp đồng cho thuê vận hành sở hữu tài sản cuối thời hạn thuê trên cơ sở không quy định quyền chọn hợp đồng CTTC có quy định mua tài sản quyền chọn mua theo giá tƣợng trƣng Luật điều chỉnh Pháp luật về CTTC Luật dân sự Thứ hai, CTTC là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền (bao gồm lợi ích và rủi ro) của chủ sở hữu (bên cho thuê) đƣợc chuyển giao cho bên thuê.