CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về trà 1. Nguồn gốc và một số vùng trồng trà Cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis thuộc họ Theaceae, là loại cây bụi hoặc cây thường xanh.
Trà là cây công nghiệp lâu năm, được nhân giống từ hạt và giâm cành, trà trồng trong khoảng ba năm thì có thể bắt đầu thu hoạch (Yang, Lambert et al. Trà có nguồn gốc từ Đông Nam Á nhưng trong gần 30 năm gần đây cây trà đã được trồng ở hơn 30 quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Sri Lanka, Kenya, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên Xô cũ, Nhật Bản, Iran, Bangladesh, Malawi, Việt Nam và Argentina. Trà có nhiều giống khác nhau, phổ biến hiện nay là trà Trung Quốc lá nhỏ, trà Trung Quốc lá to, trà Ấn Độ và trà Shan (Graham 1992, Gramza Michalowska, Korczak et al. 2005, Xu, Xia et al.
Nước ta đang có nhiều vùng chuyên canh cây trà, cho ra năng suất cao cùng với chất lượng tốt như: Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng), trong đó có thể kể đến vùng trồng trà cổ thụ ở Suối Giàng, Yên Bái (Vuong, Nguyen et al. 2011, Huu Chien, Tokuda et al. Cây trà cổ thụ ở Suối Giàng, Yên Bái (Việt Nam) Trà chứa nhiều các hợp chất polyphenol (các chất catechin), amino acid, tannic acid, và các chất chống oxi hoá khác nên việc uống trà rất có lợi cho sức khoẻ con người, có khả năng phòng ngừa rất nhiều loại bệnh như chứng Alzheimer, huyết áp cao, béo phì và giảm nguy cơ ung thư (Hung, Chen et al. Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng thiết yếu trong cơ thể con người có thể được bổ sung qua việc uống trà bởi vì lá trà có chứa các nguyên tố thiết yếu như potassium, manganese, selenium, boron, kẽm, strontium, đồng, … (Zhang, Yang et al.
Khóa luận tốt nghiệp đại học-SV: Nguyễn Phạm Như Quỳnh-1611539248 Trang 6 Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường-Trường Đại học Nguyễn Tất Thành 1. Giá trị kinh tế của trà Trà là một trong những cây công nghiệp mang lại lợi ích kinh tế cao khi búp trà, lá trà được dùng để sản xuất các loại thức uống và trà là thức uống không cồn phổ biến nhất trên thể giới sau nước. Năm 2003, sản lượng trà trên thế giới là 3.21 triệu tấn hàng năm nhưng đến năm 2010 đã đạt trên 4.52 triệu tấn, đứng đầu là Trung Quốc, tiếp đến là Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka và cuối cùng là Thổ Nhĩ kỳ (Lei 2017). Châu Á là khu vực sản xuất lớn nhất và đóng vai trò chính trên khắp thế giới, tạo ra năng xuất khoảng 80% sản lượng trên trà và tổng sản lượng trà cũng đạt 80% trên thế giới.
Trong đó, Việt Nam hiện nay là nước sản xuất trà lớn đứng thứ 7 trên thế giới và xếp thứ 5 thế giới về xuất khẩu trà. Nước ta hiện đang có trên 130 000 hecta đất trồng trà; hơn 500 cơ sở đang chế biến, sản xuất và phân phối các sản phẩm trà, với công suất lên đến hơn 500 nghìn tấn trà khô mỗi năm. Theo thống kê của Tổng Cục Hải quan, tổng giá trị trà xuất khẩu năm 2017 đạt 228 triệu USD (Hải quan Việt Nam 2017) (Hình 1.2) trong khi đó theo nghiên cứu từ Research and Markets cho thấy, thị trường trà toàn cầu đạt 24.3 tỷ USD trong năm 2016 (VnEconomy 2017). Xuất khẩu trà của Việt nam qua các tháng giai đoạn năm 2016-2018 Mức tăng trưởng của ngành trà ngày càng cao do lối sống thay đổi và sự tăng nhận thức của người tiêu dùng về việc uống trà có lợi cho sức khỏe.
Phân loại trà Trà có thể được phân loại theo nhiều cách như dựa vào nguồn gốc trà, giống trà, mà thông dụng nhất là phan loại trà theo cách chế biến. Dựa vào cách sản xuất và mức Khóa luận tốt nghiệp đại học-SV: Nguyễn Phạm Như Quỳnh-1611539248 Trang 7 Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường-Trường Đại học Nguyễn Tất Thành độ lên men của trà, có thể chia trà thành ba loại chính là trà không lên men (trà xanh hay lục trà), trà bán lên men (trà oolong) và trà lên men hoàn toàn (trà đỏ hay hồng trà). Ngoài ra, ở Trung Quốc có thêm các loại trà khác như trà vàng, trà trắng (bạch trà), trà đậm (Hình 1. Sáu loại trà chính Ứng với các quá trình lên men, công đoạn sản xuất khác nhau để cho ra các loại trà mong muốn như trà trắng, trà xanh, trà oolong hoặc hồng trà.
Những lá trà mới thu hoạch có thể trải qua một hay nhiều quá trình là làm héo, cán, oxy hóa (hoặc lên men), làm khô, phân loại. Quy trình sản xuất các loại trà được thể hiện ở Hình 1.4 (Shahidi, Lin et al. Lá trà tươi Diệt men Làm héo Vò trà Phơi hoặc sấy Vò trà Đập dập Sấy khô Sấy khô thành phẩm Lên men hoàn toàn Lên men một phần Trà xanh Trà trắng Sấy khô Diệt men Hồng trà Vò trà Sấy khô Trà oolong Hình 1. Tóm tắt quy trình sản xuất các loại trà Khóa luận tốt nghiệp đại học-SV: Nguyễn Phạm Như Quỳnh-1611539248 Trang 8 Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường-Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (i) Quy trình sản xuất trà xanh (lục trà) Trà xanh là một loại trà gần gũi trong thói quen uống trà bình dị và dân dã trong cuộc sống hàng ngày và rất có lợi cho sức khỏe.
Để giữ được sự tươi mát, vị chát đậm, hương vị tự nhiên và giữ lại các thành phần dinh dưỡng cao. Quy trình sản xuất trà xanh gồm các bước cơ bản như sau: Xào diệt men: quá trình làm ngưng hoạt động của các ezyme có trong lá trà để không làm biến đổi các chất khác dưới tác dụng của enzyme. Sự biến đổi các chất chỉ xảy ra dưới tác dụng của nhiệt độ và độ ẩm, ngoài ra giai đoạn này cũng chuẩn bị tính chất cơ lý cho phù hợp với các yêu cầu của giai đoạn sau là giai đoạn vò trà; Vò trà: quá tình để tăng độ dập của tế bào lá trà, làm cho toàn bộ khối lá được lên men đồng đều cùng ở một điều kiện và thời gian như nhau. Nhờ đó có thể tạo nên tính đặc trưng nổi bật về hương vị, màu sắc nước pha và tạo sự đồng đều cho lá sau khi lên men.
Ngoài ra, trong bước này có thể tạo hình cho lá trà; Sấy trà: tạo lại mùi hương và hậu vị cho trà cũng như giữ lại hình dáng sau khi vò trà. (ii) Quy trình sản xuất trà trắng (bạch trà) Được biết đến là loại trà mang lại hiệu quả kinh tế nhất, trà trắng có cành thưa hơn, mọc tự nhiên ở núi rừng, rất hiếm. Quy trình chế biến trà trắng gồm các bước cơ bản như sau: Làm héo lá trà, phơi lá trà dưới nắng không quá gắt: lá trà được phơi dưới ánh nắng mặt trời tự nhiên trong thời gian ngắn khoảng 25 phút để lá trà bốc hơi nước và làm giảm độ ẩm có trong nguyên liệu; Sấy khô thành phẩm với nhiệt độ sấy nhẹ 70-100 oC. (iii) Quy trình sản xuất trà đỏ (hồng trà) Để giảm được tổn thất các thành phần trong trà và giữ lại giá trị dinh dưỡng, quy trình sản xuất hồng trà đòi hỏi phải lên men đúng lúc, thời gian làm ngưng hoạt động Khóa luận tốt nghiệp đại học-SV: Nguyễn Phạm Như Quỳnh-1611539248 Trang 9 Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường-Trường Đại học Nguyễn Tất Thành của các enzyme, độ ẩm của trà cũng phải phù hợp để tạo ra sản phẩm hồng trà.
Quy trình sản xuất hồng trà gồm các bước cơ bản như sau: Làm héo: giảm hơi nước trong trà; Lên men hoàn toàn: lá trà được xử lý bằng con lăn; roto; máy nghiền, xé và uốn cong, nhằm phá vỡ các tế bào lá và giải phóng các bào tử bắt đầu quá trình oxy hóa catechin với oxy không khí. Thời gian lên men giao động từ nửa giờ đến ba giờ; Sấy trà: trà được sấy khô hoặt đốt để vô hiệu hoác các enzyme và ngăn chặn quá trình lên men (nếu còn). Kết thúc quá trình sấy, lá trà sẽ chuyển sang màu nâu sẫm hoặc màu đen, độ ẩm giảm xuống dưới 3-6%. (iv) Quy trình sản xuất trà oolong Oolong được coi là một loại trà đặc biệt và quy trình sản xuất trà oolong cũng không hề đơn giản.
Đặc biệt, trong quá trình chế biến không được sử dụng bất cứ hương liệu hay phụ gia nào để tạo ra mùi thơm đặc trưng của trà oolong. Quy trình sản xuất trà oolong gồm các bước cơ bản sau: Làm héo với nắng: tăng cường hoạt tính của các men có trong nguyên liệu nhằm chuyển quá trình tổng hợp các chất trong lá trà tươi thành quá trình phân giải các chất chuẩn bị cho quá trình lên men, tạo điều kiện cho enzyme thủy phân phân giải các hợp chất không tan thành các hợp chất hòa tan; Làm héo mát: trà sống tiếp tục lên men từng phần gây ra những biến đổi hóa học tạo ra hương vị đặc trưng cho trà oolong; Đập dập: giúp giải phóng các phân tử trà bắt đầu cho quá trình lên men; Diệt men: sử dụng nhiệt nhằm chấm dứt quá trình lên men; tùy theo loại mà cho mức độ lên men phù hợp từ 18% đến 95% theo đặc tính của sản phẩm; Vò trà: tạo sự ma sát lẫn nhau, phá vỡ từng phần của các tổ chức tế bào, làm chất hòa tan tiết ra ngấm phủ lên bề mặt lá để khi pha các chất của trà dễ hòa tan trong nước; Sấy thành phẩm gồm các bước như: sấy, phân loại và sấy lại. Đây có thể được xem là một bước cực kì quan trọng để tạo ra hương vị của trà thành Khóa luận tốt nghiệp đại học-SV: Nguyễn Phạm Như Quỳnh-1611539248 Trang 10 Khoa Kỹ thuật Thực phẩm và Môi trường-Trường Đại học Nguyễn Tất Thành phẩm. Tuy nhiên, tùy theo loại mà có mức thời gian sấy khác nhau (6 giờ hoặc 24 giờ) để tạo ra từng hương vị đặc trưng của các loại trà oolong.
Cách thức chế biến trà khác nhau (Hình 1.4) sẽ dẫn đến những khác biệt về thành phần và hàm lượng nội chất trong lá trà, đặc biệt là các hợp chất có tính kháng oxy hóa trong trà như các catechin, các hợp chất theaflavin, … Thành phần cũng như hàm lượng của các hợp chất polyphenol sẽ thay đổi trong quá trình chế biến và được phản ánh thông qua hàm lượng polyphenol tổng (sẽ được xác định và trình bày trong nghiên cứu này) cũng như nguyên dạng các polyphenol (polyphenol species).