ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA LƯƠNG DUY THỨ GIÁO TRÌNH V¨n häc trung quèc (Sách dùng cho hệ đào tạo từ xa) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ, 2013 1 2 HƢỚNG DẪN HỌC TẬP BỘ MÔN VĂN HỌC TRUNG QUỐC I. GIỚI THIỆU CHƢƠNG TRÌNH VÀ TRỌNG ĐIỂM Chƣơng trình Trung Quốc là một trong những cái nôi của loài người. Đất nước rộng lớn này có lịch sử 5.000 năm, tính từ khi nhà Tần (thế kỉ III TCN, năm 221) thống nhất toàn bộ lãnh thổ, lập nền phong kiến tập quyền, thì cũng đã hơn 2. Lịch sử Trung Quốc lâu đời và chưa hề dứt đoạn, tạo nên một nền văn hóa đồ sộ và bền vững.
Nền văn hóa ấy rất phong phú và đa dạng. Về triết học có chư tử bách gia, trong đó đáng chú ý nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia. Về nghệ thuật có thư pháp (nghệ thuật viết chữ Hán), hội họa, kiến trúc, điêu khắc… Về văn học có thơ, từ, tiểu thuyết, hí khúc…(1) Có thể thấy triết học cổ đại Trung Quốc là thành tựu tiêu biểu của văn hóa Trung Quốc, nhưng văn học lại là biểu hiện rực rỡ nhất, mang tính dân tộc độc đáo của văn hóa Trung Quốc. Văn học Trung Quốc có thể chia làm 5 giai đoạn.
Tuy thời gian phát triển dài ngắn khác nhau, nhưng mỗi giai đoạn có chung một thi pháp mang đặc điểm khác giai đoạn trước và sau nó. Văn học cổ đại Đó là văn học giai đoạn tạm xác định là từ thời Hán trở về trước. Văn học phần lớn gần folklor (gắn với môi trường giảng xướng, khuyết danh…). Thể loại: thần thoại, truyền thuyết, ca dao, dân ca.
Thi pháp gần gũi với thi pháp văn học dân gian. Các tác phẩm chọn giảng là Kinh thi, Sở (1) Có thể tham khảo: Lương Duy Thứ, Đại cương văn hoá phương Đông, Phần Văn hóa Trung Hoa, NXB Giáo dục, 1996 3 từ, Sử kí. Sử kí ra đời vào thời Tây Hán (206 TCN – 9 SCN), có người ghép nó vào văn học giai đoạn phong kiến, theo quan điểm chế độ phong kiến Trung Quốc được xác lập từ thời Chiến quốc (403 TCN – 201 TCN). Văn học trung đại Đây là giai đoạn dài nhất (20 thế kỉ) nằm gọn trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc (Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh…), là giai đoạn trưởng thành và hoàn thiện của thi pháp văn học cổ điển Trung Quốc (bao gồm thi pháp các loại hình thơ ca, tiểu thuyết, hí khúc…), là giai đoạn cuối cùng của nền văn học truyền thống trước khi nó giao lưu và tiếp biến với thi pháp các loại hình văn học phương Tây.
Mặc dù có sự giao thoa giữa tam giáo, nhưng chung quy Nho giáo và Đạo gia (Lão Trang) là tư tưởng chủ đạo chi phối văn hóa và văn học. Nho giáo bồi dưỡng cảm hứng trách nhiệm của con người, Đạo gia hướng con người về với cuộc sống tự do tự tại, chan hòa với thiên nhiên. Phật giáo răn con người diệt tục thanh tâm, tu thân để đổi kiếp, khi vào Trung quốc gặp gỡ và được tiếp biến theo khuynh hướng Nho, Đạo nói trên. Thi pháp văn học cổ điển Trung Quốc, mà có học giả đã khái quát thành bốn phạm trù Thần, Phong, Khí ,Cốt, bắt nguồn chủ yếu từ tâm thức Nho và Đạo, trong đó Nho nghiêng về khuynh hướng tư tưởng, Đạo nghiêng về phong cách nghệ thuật.
Các tác phẩm chọn giảng giai đoạn này là thơ Đường và tiểu thuyết cổ điển. Cần đọc thêm Đào Tiềm như là “ông tổ của trường phái ẩn dật” (Lỗ Tấn) và Tây sương kí như là thành tựu tiêu biểu của thể loại hí khúc (kịch nghệ). Văn học cận đại Đây là giai đoạn ngắn nhất (1840 – 1919) nhưng là bản lề của sự chuyển tiếp từ cổ điển sang hiện đại. Có người gọi tư tưởng chính trị chủ đạo của giai đoạn này là “chủ nghĩa dân chủ cũ”, nghĩa là chủ trương giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ cách mạng tư sản (tức cách mạng của Tôn Trung Sơn) để phân biệt với “chủ nghĩa dân chủ mới” – giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ cách mạng vô sản từ sau phong trào Ngũ tứ (1919).
Gọi giai đoạn này là “bản lề” bởi vì nó đặt cơ sở ban đầu cho cuộc cách mạng văn học Ngũ tứ về tư tưởng thẩm mĩ, về phương thức và phương tiện văn học. Nói cách khác, văn học cận đại có thi pháp riêng, bắc cầu giữa văn học cổ điển và văn học hiện đại. Các tác giả nổi tiếng là Khang Hữu Vi, Lương 4 Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Hoàng Tuân Hiến. Giáo trình đề cập đến Lương Khải Siêu, một nhà văn, nhà thơ, nhà báo đầy nhiệt huyết và có ảnh hưởng trực tiếp đến Phan Bội Châu và Đông Kinh nghĩa thục nước ta.
Văn học hiện đại (1919 – 1949) Giáo trình in năm 1994 ghép cận đại và hiện đại làm một giai đoạn nhưng hiện nay giới nghiên cứu Trung Quốc lại tách ra. Cuộc vận động cách mạng văn học Ngũ tứ nhằm xây dựng một nền văn học cách mạng. Sinh viên trong cao trào Ngũ tứ đã nên khẩu hiệu: “Đốt sạch cửa hàng họ Khổng” (Hỏa thiêu Khổng gia điếm), “Ủng hộ ông Science và ông Démocratic”. Họ coi Khổng giáo là cản trở khoa học dân chủ.
Mặc dù có chỗ quá khích nhưng Ngũ tứ đã đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn hóa Trung Hoa theo trào lưu chung của thế giới. Kế thừa và phát triển những đòi hỏi đổi mới về thi pháp thời cận đại, chỉ trong vòng vài thập kỉ, văn học mới Trung Hoa đã hoàn toàn khác trước. Tư tưởng “văn học cải tạo xã hội”, “văn học vị nhân sinh”, „văn học giải phóng dân tộc”, “văn học phục vụ cách mạng” đã dần dần thay thế “văn dĩ tải đạo”, “văn dĩ minh đạo”, hoặc “văn bất nhập thế”, “thi tại tính linh”… Văn học đã đối mặt với cuộc sống và lấy việc phản ánh cuộc sống, cải tạo xã hội, giải phóng dân tộc làm sứ mệnh thiêng liêng. Văn học cũng mở rộng cánh cửa giao lưu với thế giới.
Các phương pháp sáng tác, các thể tài văn chương mới mẻ được thử nghiệm. Sáng tác được thể hiện bằng văn bạch thoại gắn với lời nói hàng ngày. Như vậy là từ cơ sở tư tưởng đến phương thức sáng tác và phương tiện nghệ thuật (ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật, văn tự…) đến thời hiện đại đã được đổi mới hoàn toàn và tương thông với thế giới. Các tác giả nổi tiếng là Lỗ Tấn, Hồ Thích, Lâm Ngữ Đường, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Diệp Thánh Đào, Ba Kim, Tào Ngu, Đinh Linh, Triệu Thụ Lí… 5.
Văn học đƣơng đại (từ 1949 trở đi) Năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. Văn học đương đại Trung Hoa có thể tính từ Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (1949) đến Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ V (1987) và sau đó. Trong thời gian hơn nửa thế kỉ này, văn hóa văn nghệ Trung Hoa trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một là 17 năm phát triển ổn định trước “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (1949 – 1966); giai đoạn hai là 13 năm 5 loạn lạc do cách mạng văn hóa gây ra (1966 – 1979); giai đoạn ba là sự phục hưng văn nghệ từ sau khi khắc phục được tai họa cách mạng văn hóa, trong đó từ 1982 đến nay được gọi là “thời kì mới” của văn học nghệ thuật.
Giai đoạn một (1949 – 1966): Văn học phát triển ổn định dưới ngọn cờ “Văn nghệ phục vụ công nông binh” của tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông. Ngoài các tác giả lão thành có mặt từ Ngũ tứ và Tả liên như Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim, Tào Ngu, Đinh Linh, Triệu Thụ Lí… một số tác giả mới có những đóng góp nổi bật: Chu Lập Ba, Ngải Thanh, Lương Bân, La Quảng Bân, Đỗ Bằng Trình, Đương Mạt… Giai đoạn hai (1966 – 1979): Mặc dù cách mạng văn hóa chỉ xảy ra trong 3 năm (1966 – 1969) nhưng tác hại của phong trào quá khích này kéo dài đến 1979 và về sau nữa. Trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của Giang Thanh, văn hóa văn nghệ bị tấn công, các nhà văn bị lưu đày, bị tàn sát. Có thể coi cách mạng văn hóa là sự tiêu diệt văn hóa.
Giai đoạn ba (1970 trở đi): Sau khi đánh đổ Giang Thanh và bè lũ bốn tên, dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình, di hại của cách mạng văn hóa dần dần được quét sạch, văn hóa văn nghệ được phục hưng. Thế hệ thứ năm các nhà văn nhà thơ cách mạng Trung Quốc đã có những tên tuổi được hâm mộ: Trương Hiền Lượng (có hai truyện dài đã dịch ở Việt Nam là Một nửa đàn ông là đàn bà và Phong cách nam nhi), Vương Mông, Cao Hiểu Thanh, Phùng Kì Tài, Trương Khiết, Tô Thúc Dương, A Thành… Đánh giá các trào lưu văn học vô cùng phong phú và phức tạp hiện nay như thế nào, ý kiến còn nhiều chỗ khác nhau. Điều có thể khẳng định là dưới khẩu hiện chung “Văn nghệ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”, văn học Trung Quốc đang phát triển ổn định theo hướng hiện đại hóa tương thông với thế giới. Nói đến văn học đương đại Trung Quốc, cần đề cập đến thành tựu văn học ở Đài Loan và Hồng Kông.
Có thể coi nữ văn sĩ Quỳnh Giao như một hiện tượng văn học của Đài Loan (văn học đại chúng) và nhà văn Kim Dung như một hiện tượng văn học của Hồng Kông (văn học võ thuật). 6 Trọng điểm Văn học Trung Quốc có một lịch sử lâu dài, một thành tựu đồ sộ như thế, vậy thì trọng điểm học tập của bộ môn là gì? Chúng ta không học lịch sử văn học Trung Quốc mà học văn học Trung Quốc, nghĩa là chỉ chọn một số tác phẩm tiêu biểu cho thể loại, trường phái cũng như giai đoạn lịch sử, hơn thế có nhiều liên quan, ảnh hưởng đến văn học Việt Nam. Trên tinh thần đó, chúng ta sẽ tập trung thời gian cho những tác giả và tác phẩm sau đây: - Văn học cổ đại: Kinh thi, Sở từ, Sử kí. - Văn học trung đại: thơ Đường (chủ yếu học Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị); tiểu thuyết cổ điển (Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí, Liêu trai chí dị, Hồng lâu mộng).
- Văn học hiện đại: Lỗ Tấn II. HƢỚNG DẪN HỌC TẬP CÁC TRỌNG ĐIỂM Ở phần I, giới thiệu chương trình và trọng điểm, theo cách nhìn lịch đại, chúng ta đã men theo chiều dài lịch sử để xác định các giai đoạn văn học cũng qua đấy thấy được sự tiến triển của một nền văn học.