Chương 1 TRUYỆN THIẾU NHI CỦA HÀ THỊ CẨM ANH TRONG THÀNH TỰU TRUYỆN THIẾU NHI CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM Hà Thị Cẩm Anh có thành tựu sáng tác truyện thiếu nhi khá dày dặn. Ngoài tình yêu dành cho trẻ em, thành tựu này còn là kết quả của những tiếp thu cả về lý thuyết và thực tiễn sáng tác cho thiếu nhi trong văn học Việt Nam. Nhìn lại thành tựu truyện thiếu nhi trong văn học Việt Nam 1. Khái niệm “Văn học thiếu nhi” Trước khi nói về “Văn học thiếu nhi”, chúng tôi xin được bắt đầu với khái niệm “Thiếu nhi”.
Theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (UNCRC), thiếu nhi được xác định là những em nhỏ dưới 18 tuổi. Ở độ tuổi này, các em còn rất non nớt, do vậy, rất cần được bảo vệ và chăm sóc cả về thể chất, trí tuệ và pháp lý. Trên phạm vi toàn thế giới, nhân loại đã có rất nhiều cách bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, trong đó, các ngày quốc tế thiếu nhi, ngày tết trung thu… là những dịp đặc biệt để người lớn thể hiện sự quan tâm đến trẻ. Và một trong những cách để bảo vệ, chăm sóc trẻ em là việc sáng tác những tác phẩm văn học dành riêng cho các em.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, “Văn học thiếu nhi” là một mục từ và được định nghĩa: “Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm các tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi. Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi như Đôn Kihôtê của M. Xecvantex, Rôbinxon Cruxô của Đêphô, Gulivơ du kí của Gi. Xuypt, Xpactac của R.
Gôvahihôli, Túp lều bác Tôm của Bichơ Xtâu v. Về cơ bản, từ điển này mới chỉ xác định đối tượng tiếp nhận là thiếu nhi, kể tên một số tác phẩm tiêu biểu mà trẻ em yêu thích, lược sử sự hình thành bộ phận văn học này trong văn học thế giới và Việt Nam. 12 Cho nên ở đây khái niệm văn học thiếu nhi được đưa ra một cách còn khá mơ hồ, chưa có những đặc điểm/tiêu chí cụ thể để nhận dạng. Trong Bách khoa thư Văn học thiếu nhi Việt Nam, khái niệm văn học thiếu nhi được hiểu một cách cụ thể và chi tiết hơn.
Văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều góc độ như: chủ thể sáng tác, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận. Cụ thể, công trình này định nghĩa văn học thiếu nhi là: … Mọi tác phẩm được các tác giả sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi và đôi khi cũng là người lớn, hoặc một cơn gió, một loài vật, một đồ vật. Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em mà cũng là các nhà văn ở mọi lứa tuổi.
Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy trong đó cách nghĩ cách cảm của những hành động gần gũi với cách nghĩ cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế các em còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một lời răn dạy, với những nguồn động viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích. trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình, Như thế, văn học thiếu nhi là người bạn thông minh, mẫn cảm của thiếu nhi [41, tr. Bùi Thanh Truyền trong Giáo trình văn học (2) cho rằng: “Văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm là thiếu nhi hoặc được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, với tất cả những cảm xúc, tình cảm mãnh liệt tinh tế, ngây thơ, hồn nhiên, được các em thích thú, say mê và có nội dung hướng đến việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, đặt nền móng cho sự hoàn thiện tính cách của các em thuộc lứa tuổi khác nhau” [51, tr.
Ở đây, tác giả đã thống nhất hai khía cạnh của văn học thiếu nhi là: thẩm mỹ và giáo dục. Theo nhà nghiên cứu, một sáng tác văn học thiếu nhi phải sáng tác bằng cách nhìn trẻ thơ và hướng tới việc giáo dục nhân cách cho trẻ. 13 Trên cơ sở gợi ý của các nhà nghiên cứu lý thuyết, chúng tôi tạm thời hình dung về văn học thiếu nhi với một số luận điểm cơ bản như sau. Thứ nhất, sáng tác văn học thiếu nhi là các tác phẩm mà nhà văn viết về tuổi thơ của mình, tuổi thơ của nhiều người, thậm chí, là “tuổi thơ” mang tính phổ quát.
Nội dung của các tác phẩm này phải phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi. Nói cách khác, tác phẩm văn học thiếu nhi phải nhìn nhận cuộc sống bằng đôi mắt của trẻ thơ; suy nghĩ, chiêm nghiệm về đời sống bằng cách suy nghĩ của trẻ thơ; nói bằng giọng nói, cách nói của trẻ thơ… Thứ hai, về mục đích sáng tác. Các sáng tác văn học thiếu nhi hướng tới mục tiêu giáo dục trí tuệ, hình thành nhân cách cho các em, hướng các em tới vẻ đẹp của chân – thiện – mỹ. Trong mục tiêu giáo dục trí tuệ, bên cạnh việc cung cấp thêm các tri thức về con người và thế giới, văn học thiếu nhi còn giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em cả về từ vựng, ngữ pháp, cách diễn đạt.
Thứ ba, về lực lượng sáng tác. Người viết văn học thiếu nhi có thể là trẻ em, chẳng hạn Trần Đăng Khoa với Góc sân và khoảng trời, có thể là người lớn. Tuy nhiên, nếu tác giả của các tác phẩm văn học thiếu nhi là người lớn thì tác giả cần có sự am hiểu, đồng cảm/đồng điệu với tâm hồn trẻ thơ, phải hòa nhập được vào thế giới của các em để nhìn, để cảm, để nói bằng tri nhận và cảm xúc của các em. Thứ tư, về cách viết.
Do trẻ em còn non nớt về nhận thức, trí tuệ như đã nói ở trên, nên về hình thức văn học thiếu nhi cần đảm bảo lối hành văn/diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Ngôn ngữ trong văn học thiếu nhi cần giàu hình ảnh, giàu tính liên tưởng và cảm xúc để khơi gợi sự thích thú cho những người đọc nhỏ tuổi. Những hình dung về văn học thiếu nhi trên đây sẽ là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu những đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh. Truyện thiếu nhi trong văn học Việt Nam – các chặng đường vận động, phát triển Văn học thiếu nhi là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân tộc.
Bất kì nền văn học nào cũng chứa đựng trong nó một bộ phận không thể thiếu là văn học dành cho thiếu nhi. Cùng với thời gian, mảng văn học này dần hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức và góp phần vào sự trưởng thành của văn học nước nhà. Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, văn học thiếu nhi Việt Nam có một bộ phận đáng kể là thuộc văn học dân gian. Những sáng tác truyền miệng không phải chủ yếu dành cho trẻ em nhưng vẫn được người đọc mọi thời đại yêu thích và có ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách của trẻ, đặc biệt là các truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn.
Còn văn học hiện đại viết cho thiếu nhi được manh nha từ những năm 20/30 của thế kỉ XX nhưng thực sự phát triển và trở thành một bộ phận của văn học Việt Nam là từ sau cách mạng tháng Tám. Do vậy, nhìn lại tiến trình văn học viết cho thiếu nhi trong văn học hiện đại, chúng tôi tạm phân chia thành các chặng đường vận động, phát triển là: giai đoạn đầu thế kỷ XX, giai đoạn 1945-1975 và giai đoạn từ sau 1975 đến nay. Giai đoạn đầu thế kỷ XX Mãi đến đầu thế kỷ XX, do những ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng - văn hóa phương Tây, qua những cuộc cách tân văn học theo xu hướng hiện đại hóa, văn học cho trẻ em mới bắt đầu được chú ý. Những năm 30, văn học cho thiếu nhi trở nên phong phú, đa dạng.
Khởi đầu cho bộ phận văn học mới này là các tác giả trên văn đàn công khai, cụ thể, nhóm Tự lực văn đoàn cho xuất bản các loại sách: Hoa hồng, Hoa mai, Hoa xuân, Tuổi xanh. Tuy nhiên, những cố gắng của nhóm Tự lực văn đoàn mới chỉ dừng lại ở một chừng mực nhất định, phạm vi phản ánh của loại sáng tác này chỉ bó gọn trong những sinh hoạt của trẻ em thành thị, xa rời cuộc sống khốn khó của nhân dân lao động. 15 Là thành viên chủ chốt của nhóm Tự lực văn đoàn, Khái Hưng bên cạnh những tác phẩm nổi tiếng thuộc thể loại tiểu thuyết như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân…, còn có một mảng sáng tác dành cho thiếu nhi với những tác phẩm được nhiều người đánh giá cao như: Ông Đồ Bể, Cái ấm đất, Cắm trại, Thế giới tí hon, Cóc tía. Trong đó, truyện Ông Đồ Bể được Vũ Ngọc Phan khen như “một tuyệt tác trong loại sách nhi đồng”.
Ông Đồ Bể kể về hành trình của một ông đồ lên đường về Thăng Long để đi thi. Trên đường, ông đi qua một cái miếu có vị thần “rất thiêng” nhưng không chịu vào lễ theo lời khuyên của bà bán quán, để xin phù hộ may mắn và tránh bị thần phạt. Ông đồ giải thích: “Chỉ những kẻ hèn hạ không biết tự trọng hay không chính trực quang minh mới khúm núm, sợ hãi mà thôi”. Vị thần miếu tức giận hiện hình thành người, kết bạn với ông đồ, đi chung đường để thử xem ông ta có quang minh chính trực hay không.
Nếu ông đồ thể hiện tính xấu thì sẽ trừng trị. Thần có ý đồ xúi ông Đồ làm bậy, nhưng ông luôn giữ tư cách đàng hoàng. Khi tới Thăng Long, nghe các thí sinh nói ông viên đốc học là Chánh chủ khảo trường thi là người chuyên ăn hối lộ, ai đút lót nhiều tiền thì được điểm cao, ai không đút tiền thì sẽ bị rớt, ông Đồ Bể đã từ chối và nói là: “thà là không đỗ chứ nhất định không chịu đút lót, lễ lạc làm mất cả phẩm giá con người”. Cuối cùng, ông đã thi đỗ làm quan và luôn giữ một tư cách “quang minh chính đại” theo đúng chuẩn mực đạo đức của Nho gia.
Nhân vật Ông Đồ Bể là một nhà nho chính trực mà giới trẻ Việt Nam trong thế kỉ 20, 21 vẫn có thể noi theo. Thạch Lam là một thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn.