Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Khảo cổ học với đề tài "Các di tích tiền Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Mạnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Chí Hoàng, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn hóa Óc Eo được xác định là nền tảng vật chất của vương quốc cổ Phù Nam ở khu vực Đông Nam Á. Sau hơn bảy thập niên kể từ những phát hiện khảo cổ học đầu tiên của Louis Malleret tại cánh đồng Óc Eo (1944), nhiều vấn đề về không gian phân bố, diện mạo hiện vật và niên đại đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nguồn tư liệu về nguồn gốc văn hóa Óc Eo còn tản mạn, chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Cụ thể, các dữ liệu phản ánh mối liên kết giữa giai đoạn tiền Óc Eo và Óc Eo sớm gắn với cột địa tầng khảo cổ học vẫn còn khoảng trống lớn. Do đó, việc hệ thống hóa tư liệu khảo cổ học tại vùng Tứ Giác Long Xuyên nhằm phân tích đặc trưng văn hóa và làm rõ tính kế thừa liên tục từ tiền Óc Eo lên văn hóa Óc Eo là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích chung: Làm rõ mối quan hệ văn hóa giữa thời kỳ tiền Óc Eo và giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ, cùng tiến trình hình thành của nền văn hóa này.
  • Mục đích cụ thể:
    1. Hệ thống toàn bộ tư liệu khảo cổ học thời kỳ tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm tại vùng Tứ Giác Long Xuyên.
    2. Xác định đặc trưng văn hóa, quan hệ giao lưu, niên đại và phân kỳ các giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang giai đoạn đầu của văn hóa Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xác định nội hàm của khái niệm "tiền Óc Eo".
    2. Nhận diện các đặc trưng văn hóa của hệ thống di tích tiền Óc Eo vùng Tứ Giác Long Xuyên.
    3. Phân tích mối quan hệ chuyển tiếp từ giai đoạn tiền Óc Eo sang giai đoạn sớm của văn hóa Óc Eo tại địa bàn nghiên cứu.
    4. Làm rõ truyền thống, đặc điểm phát triển và vai trò của các di tích tiền Óc Eo vùng Tứ Giác Long Xuyên trong tiến trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các di tích, di vật tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm tại vùng Tứ Giác Long Xuyên; đối chiếu so sánh với các di tích cùng thời ở đồng bằng Nam Bộ và khu vực lân cận.
  • Không gian nghiên cứu: Không gian trọng tâm là vùng Tứ Giác Long Xuyên (diện tích gần 4.900 km², thuộc địa bàn tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần thành phố Cần Thơ). Không gian mở rộng so sánh gồm lưu vực sông Vàm Cỏ, Đồng Tháp Mười, miền Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung, Campuchia, Đông Nam Á và Ấn Độ.
  • Khung thời gian nghiên cứu: Khoảng thời gian từ thiên niên kỷ I trước Công nguyên (TCN) sang đầu Công nguyên (CN).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu nguồn gốc văn hóa Óc Eo được tác giả chia thành hai giai đoạn chính:

Giai đoạn trước năm 1975

Khởi đầu từ ghi nhận dấu tích cổ tại núi Ba Thê của A. Corre (1879), các học giả người Pháp như Paul Pelliot (1903), George E. Coedès (1944, 1947), Etienne Aymonier đã nghiên cứu văn minh Phù Nam dựa trên bi ký cổ và thư tịch Trung Hoa. Các tác giả này xem cơ sở hình thành nhà nước sớm là quá trình "Ấn Độ hóa" trên nền tảng cơ tầng bản địa có từ trước.

Năm 1944, Louis Malleret khai quật cánh đồng Óc Eo và nhận định nền văn hóa này là sản phẩm kết hợp giữa yếu tố nội sinh bản địa và ngoại nhập qua đường biển, đồng thời so sánh di vật đá, gốm ở miền tây sông Hậu với các nền văn hóa Sa Huỳnh, Đông Sơn, Cù Lao Rùa, Samrong Sen, Mlu Prei và cao nguyên Trấn Ninh để xác định Óc Eo hình thành vào giai đoạn cuối thời đại đồng - đá. Về nhân chủng học, E. Varcin phân tích 06 tiêu bản sọ người cổ ở tầng văn hóa Óc Eo và Cạnh Đền (Trăm Phố), xác định đặc điểm loại hình Proto-Malais (gần với người Thượng ở Việt Nam). Cuối thập niên 1960 - đầu 1970, E. Fontaine và Hoàng Thị Thân phát hiện các khu mộ chum Dầu Giây, Hàng Gòn, Phú Hòa (Đồng Nai), bổ sung nhận thức về mối liên hệ với văn hóa thời đại Sắt ở duyên hải miền Trung.

Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay

Các nhà khảo cổ học Việt Nam đã mở rộng nghiên cứu thời Tiền - Sơ sử Nam Bộ:

  • Hà Văn Tấn (1986, 1998) khẳng định vai trò nền tảng của cơ tầng bản địa từ sơ kỳ thời đại Kim khí, đề xuất giả thuyết văn hóa Óc Eo hội tụ từ sự phát triển đa tuyến gồm: tuyến Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt - Giồng Lớn, tuyến Gò Cao Su - Gò Ô Chùa và tuyến Gò Cây Tung.
  • Lê Xuân Diệm (1995) nhấn mạnh vai trò sáng tạo của chủ nhân văn hóa Đồng Nai đối với văn hóa Óc Eo.
  • Phạm Đức Mạnh và Bùi Chí Hoàng (1983, 1994, 2004) xác định thời đại Sắt lưu vực sông Đồng Nai (Dốc Chùa, Suối Chồn, Phú Hòa) đánh dấu bước quá độ sang thời Sơ sử, mở rộng giao lưu với Sa Huỳnh, Đông Sơn và châu thổ sông Cửu Long.
  • Võ Sĩ Khải (1985, 2008) định vị thời kỳ tiền Óc Eo thuộc thời đại Kim khí, gắn liền với nông nghiệp lúa nước và thương mại hàng hải.
  • Các luận án chuyên ngành của Đặng Văn Thắng (1992, 2009), Bùi Chí Hoàng (1994), Nguyễn Thị Hậu (1997, 2008), Bùi Phát Diệm (2002), Đào Linh Côn (2002) đã làm rõ các tổ hợp di tích kim khí Dốc Chùa, Bưng Bạc, Giồng Cá Vồ, Lò Gạch, Gò Ô Chùa, Giồng Xoài, Gò Óc Eo, Gò Tư Trâm.
  • Trần Anh Dũng (1995) khai quật Gò Cao Su và xác định đây là gạch nối trực tiếp lên văn hóa Óc Eo. Tống Trung Tín (1995, 1998) khai quật di chỉ Gò Cây Tung (1994, 1995), phát hiện tầng văn hóa dày 3-5m và xác lập tuyến văn hóa sông Hậu.

Khoảng trống luận án giải quyết

Dù mô hình "phát triển đa tuyến" đã được thừa nhận rộng rãi, các bằng chứng cụ thể về mối liên kết văn hóa gắn với cột địa tầng liên tục giữa tiền Óc Eo và Óc Eo sớm tại vùng Tứ Giác Long Xuyên vẫn chưa được xử lý đồng bộ. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tập hợp, đo vẽ, thống kê định lượng và phân loại loại hình toàn bộ nguồn tư liệu hiện vật đá, gốm, đất nung, thủy tinh tại các di chỉ trọng điểm ở Tứ Giác Long Xuyên nhằm xác lập tiến trình chuyển tiếp văn hóa có căn cứ địa tầng vững chắc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và lý thuyết

  • Văn hóa Óc Eo: Nền văn hóa đô thị hình thành trên châu thổ sông Cửu Long trong thiên niên kỷ I AD, gồm 3 giai đoạn: Óc Eo sớm (thế kỷ I-III AD), Óc Eo phát triển (thế kỷ IV-VII AD), Óc Eo muộn (thế kỷ VIII-X AD), tiếp nối bằng giai đoạn hậu Óc Eo (thế kỷ XI-XIII AD).
  • Khái niệm tiền Óc Eo: Được phân định thành hai cấp độ:
    • Thời kỳ tiền Óc Eo (Before-Oc Eo): Toàn bộ phức hệ văn hóa tiền sử - sơ sử tại Nam Bộ trước đầu Công nguyên, tạo thành cơ tầng bản địa.
    • Giai đoạn tiền Óc Eo (Pre-Oc Eo): Bước chuyển tiếp trực tiếp từ thời tiền sử sang văn hóa Óc Eo (khoảng 2.500 BP đến đầu Công nguyên, tương đương hậu kỳ Đồng - sơ kỳ Sắt), xuất hiện mầm mống kỹ nghệ thủ công, thương mại liên vùng và tiền đô thị.
  • Khung lý thuyết phân vùng văn hóa: Vận dụng lý thuyết phân vùng văn hóa của Ngô Đức Thịnh và quan điểm phân 6 tiểu vùng văn hóa Óc Eo của Trần Quốc Vượng. Tác giả xác lập 8 tiểu vùng sinh thái - văn hóa ở Nam Bộ: (1) Tứ Giác Long Xuyên; (2) Ô Môn - Phụng Hiệp; (3) U Minh - Cạnh Đền; (4) Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu; (5) Vàm Cỏ - Đồng Tháp Mười; (6) Giồng cát duyên hải Tây Nam Bộ; (7) Duyên hải Đông Nam Bộ; (8) Vùng cao Đông Nam Bộ.
  • Lý thuyết tiếp biến văn hóa và đô thị hóa sơ khai: Đánh giá sự tương tác giữa nội sinh và ngoại sinh, sự dịch chuyển cư dân và chuyển biến từ làng nông nghiệp - thủ công nghiệp sang cảng thị sơ khai.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp luận sử học trong phân tích tư liệu khảo cổ học gắn với diễn trình lịch sử.
  • Phương pháp chuyên ngành khảo cổ học: Điền dã, khai quật khảo cổ, đo vẽ mặt cắt địa tầng; phân loại hình học (typology); thống kê định lượng kết hợp mô tả hình thái; phân tích so sánh đồng đại và lịch đại.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Tái hiện tiến trình phát triển văn hóa theo tầng văn hóa và trật tự niên đại tương đối, tuyệt đối.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Địa chất học, cổ môi trường học (trầm tích học, phân tích bào tử phấn hoa, định tuổi đồng vị Carbon-14 mẫu than củi và vỏ sò/hàu), nhân chủng học cổ, xã hội học và đô thị học.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh địa chất - cổ môi trường vùng Tứ Giác Long Xuyên, lịch sử nghiên cứu và hệ thống lý thuyết áp dụng.

Lịch sử hình thành và đặc điểm địa hình vùng Tứ Giác Long Xuyên

Vùng Tứ Giác Long Xuyên được định hình từ quá trình Tân Kiến Tạo cuối Kainozoi (khoảng 20 triệu năm trước), diễn ra sự xô húc giữa mảng lục địa Ấn Độ và mảng Á - Âu tạo nên đứt gãy sông Hậu theo hướng đông bắc - tây nam, hình thành bồn trũng sụt lún Cửu Long xen kẽ vòng cung núi sót kéo dài gần 100km từ An Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn đến Thoại Sơn (An Giang) và Hòn Đất, Ba Hòn, Hà Tiên (Kiên Giang).

Tiến trình hình thành đồng bằng chịu sự chi phối của các đợt dao động mực nước biển trong kỷ Holocene:

  • Biển tiến Flandrian (18.000 BP - 11.000 BP): Nước biển nhấn chìm Nam Bộ, kết thúc bằng đợt biển thoái tạo lớp phù sa cổ tuổi Pleistocene muộn (chạy dọc biên giới Campuchia, Bảy Núi đến Vàm Cỏ Tây).
  • Biển tiến Holocene I (8.000 - 6.000 BC / 6.950 BP): Đạt đỉnh +4m đến +5m, để lại ngấn nước vách đá vôi Hà Tiên và trầm tích hệ tầng Hậu Giang chứa vỏ sò Crassostrea và Thais gradata.
  • Biển thoái và tiến Holocene II: Khoảng 3.600 BP, biển rút tạo nên giồng đất thấp như Giồng Đá (tuổi C14 là 3.800 BP). Đến 2.800 BP (biển tiến Holocene II), mực nước dâng đạt +3m, sau đó hạ xuống +2m đến +1,5m vào khoảng 2.400 BP (biển thoái Holocene II), làm lộ bề mặt bồn trũng và hình thành các giồng cát ven biển Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre.
  • Hải xâm - hải thoái Holocene III: Khoảng 2.000 BP, biển dâng +0,4m, cánh đồng Óc Eo vẫn là cửa biển chịu chế độ bán nhật triều. Đến giai đoạn 50 - 350 AD (hải thoái Holocene III), nước biển hạ xuống -0,5m, sông Cửu Long tách dòng tại Châu Đốc thành sông Tiền và sông Hậu, châu thổ trũng thấp mở rộng nhanh chóng về phía nam và tây nam.
Phân kỳ biến động biển Khung thời gian Mực nước biển so với hiện nay Dấu tích địa chất / Cổ sinh tiêu biểu
Biển tiến Flandrian 18.000 - 11.000 BP Biển dâng ngập toàn vùng Thềm biển cổ quanh núi Cấm, núi Dài, Hòn Đất
Biển tiến Holocene I 8.000 - 6.000 BC Đỉnh +4m đến +5m Ngấn nước đá vôi Hà Tiên, sò Crassostrea
Biển thoái Holocene II Khoảng 3.600 - 3.400 BP Hạ xuống mức +3m đến +1,25m Giồng Đá (3.800 BP), bãi hàu núi Chóc, núi Tượng
Biển tiến Holocene II Khoảng 2.800 BP Đạt đỉnh +3m Lớp trầm tích biển đầm lầy vịnh Rạch Giá
Biển thoái Holocene II Khoảng 2.400 BP Hạ xuống +2m đến +1,5m Giồng cát cổ Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre
Hải xâm Holocene III Khoảng 2.000 BP Cao nhất +0,4m Cánh đồng Óc Eo tồn tại môi trường cửa biển
Hải thoái Holocene III Đầu CN - 350 AD Hạ xuống -0,5m Phân nhánh sông Tiền - Hậu; bồi lấp Lung Lớn

Các khu vực địa lý - khảo cổ học vùng Tứ Giác Long Xuyên

Vùng Tứ Giác Long Xuyên được chia thành 3 tiểu khu vực cảnh quan:

  1. Khu vực Núi Sam - Bảy Núi: Địa hình bán sơn địa gồm đồi núi sót và thềm phù sa cổ, xen kẽ đồng bằng thung lũng hẹp. Phân bố các di chỉ tiền Óc Eo và Óc Eo muộn như Gò Cây Tung, An Phú, Phum Quao, Gò Me - Gò Sành, Gò Cây Sung, Gò Châu Thi, Brây Muln.
  2. Khu vực Thoại Sơn - Núi Sập: Không gian chuyển tiếp từ thềm phù sa cổ xuống đồng bằng trũng thấp chịu ảnh hưởng của lạch triều cửa sông. Nơi đây tập trung các di tích trung tâm như Óc Eo - Ba Thê, Đá Nổi, Nóp Lê, Mốp Văn, Định Mỹ.
  3. Khu vực Hà Tiên - Rạch Giá: Dải đồng bằng trũng ven biển tiếp giáp vịnh Thái Lan, có hệ thống núi đá vôi karst và cửa sông sâu. Nơi phân bố các di tích Xoa Ảo, Giồng Cu, K9, Nền Chùa.

Khác với vùng Đồng Tháp Mười là đồng bằng "lũ kín" được bao bọc bởi đê tự nhiên và chỉ thoát nước qua sông Vàm Cỏ ra cửa Soài Rạp, vùng Tứ Giác Long Xuyên là đồng bằng "lũ hở", mở thẳng ra vịnh Thái Lan, tạo ưu thế vượt trội cho giao thương quốc tế.


CHƯƠNG 2: DI TÍCH, DI VẬT TIỀN ÓC EO Ở VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN

Chương 2 mô tả hệ thống di tích và phân loại chỉnh lý toàn bộ sưu tập di vật đá, gốm, đất nung, thủy tinh phát hiện tại vùng Tứ Giác Long Xuyên.

Hệ thống di tích khảo cổ học tiêu biểu

  • Khu vực Núi Sam - Bảy Núi: Di chỉ Gò Cây Tung có địa tầng dày 3-5m gồm nhiều tầng cư trú đất đắp liên tục; di tích Gò Cây Sung, Gò Cây Trôm, An Phú, Phum Quao, Gò Me - Gò Sành, Gò Châu Thi.
  • Khu vực Hà Tiên - Rạch Giá: Di chỉ K9 (khai quật năm 2006 có địa tầng hố 06K9.H1), Xoa Ảo, Giồng Cu.
  • Khu vực Thoại Sơn - Núi Sập: Quần thể Óc Eo - Ba Thê gồm di chỉ cư trú sớm Giồng Xoài, Gò Óc Eo, Gò Tư Trâm (khai quật 2002, 2005), Gò Cây Thị và kiến trúc mộ vò Linh Sơn Nam (hố 98OE.H1).

Phân loại và đặc trưng di vật

  1. Công cụ và trang sức đá:

    • Công cụ sản xuất: Rìu tứ giác không vai (gồm rìu hình thang đốc hẹp, rìu hình thang đốc rộng, rìu hình vuông sắc cạnh); rìu đá có vai; cuốc đá không vai thân hình trụ; cuốc đá có vai; đục tứ giác; phác vật công cụ hình oval; bàn mài bằng và bàn mài rãnh.
    • Đồ trang sức đá: Vòng tay tiết diện hình tam giác, hình thang, hình bán nguyệt làm bằng đá phiến, cùng với lõi vòng và bàn mài tách lõi vòng.
  2. Đồ đất nung, thủy tinh và kim loại:

    • Tượng động vật bằng đất nung, chạc gốm hình chân ba chạc dùng trong đun nấu.
    • Ngói lợp kiến trúc (ngói máng bản mỏng, có gờ khớp nối theo kỹ thuật Ấn Độ).
    • Hạt chuỗi thủy tinh màu xanh, nâu đỏ, vàng phát hiện tại K9 và Gò Cây Thị.
    • Dụng cụ luyện kim: Nồi nấu kim loại bằng gốm chịu nhiệt (loại hình 11).
  3. Đồ gốm tiền Óc Eo và Óc Eo sớm: Tác giả phân lập các nhóm chất liệu gốm: gốm thô pha cát truyền thống (Loại 1), gốm mịn xám trắng (Loại 4), gốm mịn màu đen (Loại 5) và gốm mịn màu đỏ/cam (Loại 6).

    Hệ thống loại hình đồ gốm gồm 21 kiểu dáng tiêu biểu:

    • Đồ đựng và phục vụ sinh hoạt: Đĩa/tô sâu lòng (Loại 1, 2, 3); vò thân hình cầu vành miệng đắp gờ cao (Loại 4, 5, 6, 7, 8, 9); vò hình cầu miệng loe xiên (Loại 10); bình miệng loe lật vai xuôi (Loại 16a, 16b); bình thân hình cầu (Loại 17); bát đáy tròn (Loại 18); bát bồng chân cao (Loại 19); ly chân cao (Loại 20); nắp đậy gốm mịn (Loại 14, 21); đồ gốm trang trí hoa văn kiểu Kalanay và gốm ngoại nhập.
    • Cà ràng (bếp lò gốm di động): Loại hình 12, phân thành 3 kiểu (12a, 12b, 12c) đặc trưng cho cư dân vùng sông nước.
Nhóm hiện vật Loại hình / Kiểu dáng kỹ thuật tiêu biểu Di chỉ phân bố tập trung
Công cụ đá Rìu hình thang đốc hẹp/rộng, rìu vuông, cuốc hình trụ, bàn mài rãnh Gò Cây Tung, An Phú, Gò Cây Sung, Phum Quao
Trang sức Vòng tay đá phiến, lõi vòng, hạt chuỗi thủy tinh Gò Cây Tung, K9, Gò Cây Thị
Dụng cụ luyện kim Nồi nấu kim loại bằng đất chịu nhiệt (Loại hình 11) Gò Cây Tung, Gò Me - Gò Sành
Bếp gốm Cà ràng các kiểu 12a, 12b, 12c; chạc gốm Gò Cây Tung, K9, Giồng Xoài, Gò Tư Trâm
Đồ gốm mịn sinh hoạt Bát bồng (Loại 19), ly chân cao (Loại 20), nắp đậy (Loại 21) Gò Tư Trâm, Gò Óc Eo, K9, Giồng Xoài
Vật liệu kiến trúc Ngói lợp có ngàm móc rãnh kiểu Ấn Độ Gò Cây Thị, Gò Tư Trâm, Óc Eo - Ba Thê

CHƯƠNG 3: CÁC DI TÍCH TIỀN ÓC EO Ở VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN: ĐẶC TRƯNG, NIÊN ĐẠI VÀ QUAN HỆ VĂN HÓA

Chương 3 tổng hợp các đặc trưng loại hình di tích, phân kỳ văn hóa, định tuổi tuyệt đối và làm rõ mạng lưới giao lưu văn hóa khu vực.

Đặc trưng di tích và di vật

  • Phân bố và cao độ di tích: Các di chỉ phân bố theo hai bậc địa hình: thềm cao phù sa cổ bán sơn địa (+2m đến +6m như Gò Cây Tung, An Phú) và các gò - giồng đất thấp ven cửa sông cổ (+0,5m đến +2m như Giồng Cu, K9, Óc Eo).
  • Loại hình di tích: Gồm 3 nhóm chính:
    1. Di tích cư trú: Tầng văn hóa tích tụ đất đắp nhiều lớp, dấu vết cọc gỗ nhà sàn vùng ngập triều.
    2. Di tích mộ táng: Mộ vò/chum gốm chôn cất cải táng kết hợp đồ tùy táng bằng đá, thủy tinh (tiêu biểu tại Linh Sơn Nam).
    3. Di tích cư trú kết hợp xưởng thủ công: Vết tích luyện đồng/vàng qua nồi nấu kim loại, xưởng chế tác vòng đá phiến và xưởng gốm.
  • Diễn biến di vật theo địa tầng: Tỷ lệ gốm thô pha cát truyền thống (Loại 1) giảm dần từ các lớp dưới lên lớp trên, nhường chỗ cho sự gia tăng vượt trội của gốm mịn xám đen, đỏ cam (Loại 4, 5, 6) mang phong cách Óc Eo chuẩn mực.

Niên đại, phân kỳ và các giai đoạn phát triển

Dựa trên kết quả phân tích niên đại phóng xạ Carbon-14 (than củi, vỏ hàu) và diễn biến tầng văn hóa, tác giả xác lập tiến trình phát triển liên tục:

  • Giai đoạn 1 (Tiền Óc Eo sớm, thế kỷ IV - II TCN): Đại diện bởi tầng dưới di chỉ Gò Cây Tung; công cụ đá chiếm ưu thế, đồ gốm thô truyền thống với hoa văn thừng kỹ thuật chiếm tỷ lệ áp đảo.
  • Giai đoạn 2 (Tiền Óc Eo muộn / Chuyển tiếp, thế kỷ II TCN - đầu CN): Đại diện bởi tầng giữa Gò Cây Tung, di chỉ K9, Xoa Ảo, Giồng Cu; xuất hiện luyện kim, hạt chuỗi thủy tinh, nồi nấu kim loại và đồ gốm mịn bắt đầu phát triển.
  • Giai đoạn 3 (Óc Eo sớm / Óc Eo sơ kỳ, thế kỷ I - III AD): Đại diện bởi tầng văn hóa sớm tại Óc Eo - Ba Thê (Giồng Xoài, Gò Óc Eo, Gò Tư Trâm, Gò Cây Thị); định hình hoàn chỉnh bộ tổ hợp gốm mịn Óc Eo, ngói lợp kiến trúc, mộ vò Linh Sơn Nam và kênh đào Lung Lớn (mẫu trầm tích 02OE.GCA1 có niên đại thế kỷ II-III AD).

Bối cảnh quan hệ văn hóa liên vùng

Luận án chứng minh vị trí đầu mối giao lưu của vùng Tứ Giác Long Xuyên trong mạng lưới văn hóa Nam Bộ và châu Á:

  • Với vùng Vàm Cỏ - Đồng Tháp Mười: Tương đồng về kiểu dáng miệng gốm Lò Gạch, Gò Cao Su, Gò Hàng, Gò Ô Chùa, cùng loại hình cà ràng và chạc gốm.
  • Với miền Đông Nam Bộ: Thừa hưởng kỹ nghệ luyện kim, chế tác trang sức và tục hỏa táng/cải táng mộ chum từ các trung tâm Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, Dốc Chùa, Suối Chồn.
  • Với duyên hải miền Trung (Sa Huỳnh - Hòa Diêm): Tương đồng về phong cách gốm trang trí kiểu Sa Huỳnh - Kalanay và cấu trúc mộ vò chôn đứng giữa Linh Sơn Nam và Hòa Diêm (Khánh Hòa).
  • Với khu vực Đông Nam Á lục địa và hải đảo: Điểm tương đồng về công cụ đá Samrong Sen (Campuchia) và phức hệ gốm Kalanay phân bố rộng khắp hải đảo Đông Nam Á.
  • Với Ấn Độ: Tiếp nhận ngói lợp kiến trúc có rãnh móc khớp nối (thế kỷ I TCN - đầu CN), đồ gốm ngoại nhập, kỹ thuật chế tác trang sức đá quý và thủy tinh.

Sự hình thành đô thị cổ Óc Eo và vấn đề chủ nhân

Đô thị cổ Óc Eo được xác lập trên cơ sở sự tích tụ kinh tế - văn hóa từ các cộng đồng cư dân tiền Óc Eo tại chỗ dọc triền núi Ba Thê và ven các lạch triều cổ. Khi quá trình hải thoái Holocene III làm bồi lấp cửa sông Óc Eo vào thế kỷ II-III AD, cư dân đã đào vét lạch triều tự nhiên thành kênh Lung Lớn dài 17km nối cảng thị Óc Eo với tiền cảng nước sâu Nền Chùa (hình thành và phát triển từ thế kỷ III-VII AD). Chủ nhân của nền văn hóa là cộng đồng cư dân bản địa mang đặc trưng thể chất Proto-Malais, đã tiếp thu và dung hợp các yếu tố kỹ thuật, tôn giáo ngoại nhập để hình thành tổ chức xã hội đô thị sơ khai.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  1. Hệ thống hóa nguồn tư liệu: Luận án tập hợp và phân loại một cách hệ thống toàn bộ tư liệu khảo cổ học về giai đoạn tiền Óc Eo và Óc Eo sớm tại vùng Tứ Giác Long Xuyên, xử lý dữ liệu qua 44 bảng thống kê, 11 biểu đồ và 93 phụ lục minh họa.
  2. Chứng minh tính kế thừa bản địa: Kết quả phân tích địa tầng và loại hình học di vật chứng minh văn hóa Óc Eo hình thành trên nền tảng cơ tầng văn hóa bản địa tiền Óc Eo phát triển liên tục từ thời đại Kim khí, bác bỏ quan điểm xem văn hóa Óc Eo là hiện tượng ngoại nhập thuần túy từ "Ấn Độ hóa".
  3. Xác lập phân kỳ và niên đại: Xác định khung niên đại chuyển tiếp từ thế kỷ IV TCN đến thế kỷ III AD dựa trên chuỗi dữ liệu C14 và diễn biến tỷ lệ biến đổi chất liệu gốm thô sang gốm mịn.
  4. Làm rõ mô hình phát triển tuyến sông Hậu: Khẳng định tuyến phát triển Tứ Giác Long Xuyên (Gò Cây Tung - K9 - Óc Eo) là một trong những dòng chảy văn hóa cốt lõi, song hành và tương tác chặt chẽ với tuyến Đông Nam Bộ và tuyến Vàm Cỏ - Đồng Tháp Mười trong bức tranh đa tuyến của Nam Bộ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tiếp tục triển khai thám sát và khai quật địa tầng sâu tại các vùng trũng sình lầy ở Thoại Sơn, Tri Tôn, Kiên Lương để tìm kiếm thêm dấu tích cư trú nhà sàn thời tiền Óc Eo.
  • Tăng cường ứng dụng các phương pháp phân tích thành phần khoáng vật học (petrography), thạch học đối với gốm và hợp kim học đối với di vật kim loại nhằm truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.
  • Xây dựng quy hoạch khoanh vùng bảo vệ các di chỉ khảo cổ học tiền Óc Eo tại An Giang và Kiên Giang, tích hợp nguồn tư liệu vào hồ sơ khoa học quần thể di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tư liệu khai quật ở một số di chỉ vùng trũng thấp còn chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng xáo trộn địa tầng do thủy triều và hoạt động canh tác nông nghiệp hiện đại; số lượng mẫu niên đại tuyệt đối C14 tại các tầng văn hóa chuyển tiếp sớm còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên ngành với các di tích thời đại sắt sớm ở hạ lưu sông Mê Kông thuộc lãnh thổ Campuchia và vùng duyên hải vịnh Thái Lan; phân tích sâu hơn về cấu trúc xã hội và phương thức sinh kế của cư dân tiền Óc Eo qua mẫu bào tử phấn hoa và di cốt động thực vật.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý di sản:

  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên: Cung cấp khung phân loại hình học chi tiết cho 21 loại hình đồ gốm, đồ đá, dụng cụ luyện kim và hệ thống dữ liệu cổ địa lý Holocene vùng Tây Nam Bộ.
  • Đối với các nhà khảo cổ học và sử học: Cung cấp nguồn sử liệu vật thật để nghiên cứu thời kỳ Tiền - Sơ sử Nam Bộ, nguồn gốc vương quốc Phù Nam và mạng lưới hải thương châu Á.
  • Đối với cơ quan quản lý văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích khảo cổ học tại tỉnh An Giang và Kiên Giang.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "tiền Óc Eo" trong luận án được phân định như thế nào?
Luận án phân biệt rõ hai cấp độ: "Thời kỳ tiền Óc Eo" chỉ toàn bộ quá trình phát triển văn hóa tiền - sơ sử ở Nam Bộ trước Công nguyên tạo nên cơ tầng bản địa; còn "Giai đoạn tiền Óc Eo" là bước chuyển tiếp trực tiếp (khoảng thế kỷ IV TCN đến đầu Công nguyên, tương đương hậu kỳ Đồng - sơ kỳ Sắt), nơi xuất hiện các mầm mống kỹ thuật, thương mại và cấu trúc tiền đô thị của văn hóa Óc Eo.

2. Biến động mực nước biển trong Holocene ảnh hưởng thế nào đến sự phân bố di tích tiền Óc Eo ở Tứ Giác Long Xuyên?
Các đợt biển thoái Holocene II (khoảng 3.600 - 2.400 BP) và hải thoái Holocene III (50 - 350 AD) đã làm lộ diện đồng bằng trũng phù sa mới. Cư dân cổ đã dịch chuyển địa bàn cư trú từ các thềm phù sa cổ bán sơn địa cao (+2m đến +6m quanh Bảy Núi) xuống định cư trên các gò, giồng đất thấp ven các lạch triều và cửa biển cổ (+0,5m đến +2m như Giồng Cu, K9, Óc Eo).

3. Tuyến phát triển văn hóa tiền Óc Eo vùng Tứ Giác Long Xuyên có đặc trưng gì khác biệt so với các tuyến khác ở Nam Bộ?
Tuyến Tứ Giác Long Xuyên nằm trong vùng đồng bằng "lũ hở", có hệ thống lạch triều thông thẳng ra vịnh Thái Lan và kết nối với các cụm núi sót giàu khoáng sản đá. Do đó, nơi đây sớm phát triển kỹ nghệ chế tác đá, luyện kim, tiếp thu ngói lợp và đồ gốm ngoại nhập, hình thành nên cảng thị đô thị Óc Eo gắn liền với tiền cảng Nền Chùa.

4. Dấu tích vật chất nào chứng minh mối quan hệ giữa di tích tiền Óc Eo Tứ Giác Long Xuyên với Ấn Độ và Đông Nam Á hải đảo?
Mối quan hệ với Ấn Độ được chứng minh qua ngói lợp kiến trúc có gờ móc rãnh (thế kỷ I TCN - đầu CN), hạt chuỗi thủy tinh và gốm ngoại nhập. Mối quan hệ với Đông Nam Á hải đảo thể hiện qua đồ gốm mang phong cách trang trí hoa văn Sa Huỳnh - Kalanay, loại hình bếp gốm cà ràng và kỹ thuật chế tác khuyên tai, vòng đá phiến.

5. Kênh Lung Lớn có vai trò gì trong tiến trình hình thành và biến đổi của đô thị cổ Óc Eo?
Kênh Lung Lớn (dài 17km, niên đại C14 lớp trầm tích khoảng thế kỷ II-III AD) vốn là một lạch triều tự nhiên được cư dân cổ đào vét mở rộng khi cửa biển Óc Eo bị bồi lấp do hải thoái Holocene III, đóng vai trò tuyến giao thông thủy huyết mạch nối đô thị trung tâm Óc Eo với tiền cảng Nền Chùa ra vịnh Thái Lan.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Mạnh đã hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu khảo cổ học tiền Óc Eo và Óc Eo sớm tại vùng Tứ Giác Long Xuyên, gắn kết chặt chẽ diễn biến địa tầng với các pha dao động cổ môi trường Holocene. Công trình chứng minh tính kế thừa liên tục của cơ tầng văn hóa bản địa từ thời đại Kim khí lên nền văn minh đô thị Óc Eo, xác lập vị trí của tuyến phát triển sông Hậu trong tổng thể không gian Nam Bộ. Đây là tài liệu khoa học đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu lịch sử - văn hóa cổ đại ở đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Á.