Tổng quan nghiên cứu

Dân tộc Tày là cộng đồng có dân số đông thứ hai tại Việt Nam với hơn 1,62 triệu người, sở hữu bề dày văn hóa truyền thống đặc sắc cùng hệ thống hơn 7.966 lễ hội dân gian trải dài khắp vùng trung du và miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, trong bối cảnh giao lưu văn hóa và hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, vốn từ vựng bản địa đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, khi ước tính có khoảng 35% thanh thiếu niên tại các vùng đô thị hóa suy giảm khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ thường nhật. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để nhận diện, phân loại và bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể thông qua lăng kính ngôn ngữ học một cách có hệ thống.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam của tác giả Nông Thị Thủy với đề tài "Các từ ngữ thuộc trường tập tục và lễ hội trong tiếng Tày" được thực hiện nhằm miêu tả toàn diện đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của lớp từ vựng chuyên biệt này. Phạm vi khảo sát thực địa được triển khai sâu rộng tại 3 địa bàn trọng điểm thuộc tỉnh Cao Bằng, bao gồm xã Đàm Thủy (huyện Trùng Khánh), xã Huy Giáp và xã Đình Phùng (huyện Bảo Lạc) trong mốc thời gian hoàn thành năm 2017. Nghiên cứu đạt ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao khi thu thập, phân tích hơn 650 đơn vị từ ngữ, đặt nền móng chuẩn hóa dữ liệu cho việc biên soạn cuốn từ điển văn hóa bách khoa Tày trong tương lai và nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc tộc người đạt hiệu quả tăng 40% trong cộng đồng giáo dục địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của hai hệ thống lý thuyết liên ngành: ngôn ngữ học từ vựng - ngữ nghĩa và văn hóa học dân tộc. Về mặt ngôn ngữ học, luận văn kế thừa mô hình trường từ vựng ngữ nghĩa kinh điển từ các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu năm 1999 và Nguyễn Thiện Giáp năm 2010, kết hợp quan điểm cấu trúc luận của Ferdinand de Saussure về trục quan hệ hình tuyến (ngang) và trực tuyến (dọc). Hệ thống trường nghĩa được phân định thành 4 tiểu loại cơ bản: trường biểu vật, trường biểu niệm, trường tuyến tính và trường liên tưởng.

Về mặt văn hóa học, luận văn vận dụng lý thuyết văn hóa của Trần Ngọc Thêm với 3 đặc trưng cốt lõi là tính hệ thống, tính giá trị và tính nhân sinh, song hành cùng 3 định đề quan hệ hữu cơ ngôn ngữ - văn hóa của Nguyễn Văn Chiến. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt bao gồm: từ và phương thức cấu tạo từ (từ đơn, từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ), ngữ hoặc đoản ngữ (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ theo Nguyễn Tài Cẩn), nghĩa từ vựng (nghĩa biểu vật, biểu niệm, biểu thái) và phạm trù tập tục - lễ hội cổ truyền. Khung lý thuyết này cung cấp công cụ phân tích chuẩn xác để giải mã hơn 10 tiểu trường ngữ nghĩa đặc thù trong đời sống người Tày.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được xây dựng từ quy trình thu thập đa nguồn, kết hợp giữa khảo sát điền dã thực tế và thẩm định 12 văn bản chữ Nôm Tày, sách cúng cổ truyền cùng các tác phẩm văn học dân gian. Cỡ mẫu nghiên cứu đạt 650 đơn vị từ ngữ và đoản ngữ, được chọn lọc thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng xã hội học. Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 45 đối tượng bản ngữ thuộc các nhóm độ tuổi từ 18 đến 85 tuổi, bao gồm các nghệ nhân then, thầy tào, già làng và đồng bào Tày sinh sống tại 3 xã Đàm Thủy, Huy Giáp và Đình Phùng.

Tiến trình nghiên cứu ứng dụng đồng bộ 3 phương pháp then chốt: phương pháp ngôn ngữ học điền dã (nghe, ghi âm, ghi chép ký âm trực tiếp), phương pháp thống kê - phân loại nhằm xác định tần suất và tỷ lệ xuất hiện của các đơn vị hình thức, và phương pháp miêu tả - phân tích ngữ nghĩa cú pháp. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo tính khách quan khoa học, giúp phản ánh chân thực bức tranh ngữ nghĩa sống động từ ngữ cảnh sinh hoạt đời thường đến không gian nghi lễ tâm linh thiêng liêng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên 650 đơn vị ngữ liệu đã mang lại 4 phát hiện khoa học mang tính bước ngoặt:

Thứ nhất, về mặt cấu trúc hình thức, các đơn vị có hình thức là từ ghép và đoản ngữ chiếm ưu thế tuyệt đối với tỷ lệ 68,5% (trong đó từ ghép chính phụ chiếm 42,3%, từ ghép đẳng lập chiếm 26,2%), trong khi từ đơn chỉ chiếm 31,5%. Điều này chứng minh xu hướng cấu tạo từ ngữ tiếng Tày thiên về phương thức ghép định danh cụ thể hóa.

Thứ hai, trong trường tập tục, nghiên cứu đã phân lập thành công 10 tiểu trường ngữ nghĩa, trong đó nhóm từ ngữ phản ánh tập tục tín ngưỡng - tôn giáo và chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, tang ma) chiếm tỷ trọng lớn nhất với 46,8%, theo sau là tập tục canh tác nông nghiệp ruộng nước chiếm 23,5%.

Thứ ba, trường lễ hội phân hóa thành 4 phân nhóm rõ rệt, gồm tên gọi lễ hội, hoạt động tế lễ - trò chơi dân gian, địa danh và vật phẩm hiến sinh; trong đó các đơn vị chỉ hoạt động nghi thức và vật phẩm chiếm tới 56,2% tổng số từ ngữ lễ hội.

Thứ tư, thế giới quan tâm linh người Tày được mã hóa đậm nét qua các cặp phạm trù nhị nguyên như "khoăn" (nam 7 vía, nữ 9 vía) và "phi" (phi lành và phi dữ), phản ánh chiều sâu tư duy vạn vật hữu linh của cư dân bản địa.

Thảo luận kết quả

Các kết quả phân tích chỉ ra rằng cơ chế định danh từ ngữ của người Tày bắt nguồn trực tiếp từ phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước tại các vùng thung lũng karst và nếp sống cộng đồng làng bản ("bản"). So sánh với các nghiên cứu trước đây của Lã Văn Lô và Hoàng Văn Ma, luận văn đã làm sáng tỏ tính tương thích cao độ giữa cấu trúc ngôn ngữ đơn lập không biến hình và cách tư duy trực quan, giàu hình tượng của tộc người. Những từ ngữ như "hội Lồng Tồng" (hội Xuống đồng), "hội Lượn hai" hay các thực hành diễn xướng then thể hiện sự gắn kết không thể tách rời giữa lao động sản xuất và nhu cầu tâm linh thiêng liêng.

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu được mô hình hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu hình thức cấu tạo từ vựng (phân định rõ tỷ lệ 68,5% từ phức và 31,5% từ đơn) kết hợp bảng ma trận phân bố ngữ nghĩa đa chiều qua 10 tiểu trường tập tục và 4 nhóm thành tố lễ hội. Cách tổ chức dữ liệu này tạo ra cái nhìn trực quan, minh chứng sinh động cho luận điểm ngôn ngữ là nơi lưu giữ bền vững nhất các trầm tích văn hóa cổ truyền của dân tộc Tày.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên những phát hiện khoa học từ đề tài, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy giá trị vốn từ ngữ văn hóa Tày:

Thứ nhất, số hóa và xây dựng ngân hàng ngữ liệu điện tử đa phương tiện. Thực hiện việc lưu trữ số hóa 100% ngữ liệu gồm hơn 650 mục từ ngữ tập tục, lễ hội kèm phát âm chuẩn, hình ảnh và video tư liệu nghi lễ trong giai đoạn 2026-2028, do Viện Ngôn ngữ học phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cao Bằng chủ trì.

Thứ hai, chuẩn hóa và tích hợp vốn từ văn hóa vào chương trình giáo dục phổ thông. Đưa tối thiểu 50 đơn vị bài học tích hợp ngôn ngữ - văn hóa Tày vào tài liệu giáo dục địa phương tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Kạn trước quý II/2027, dưới sự chỉ đạo của các Sở Giáo dục và Đào tạo.

Thứ ba, phục dựng không gian thực hành nghi lễ và diễn xướng dân gian. Duy trì tổ chức định kỳ hàng năm 100% các lễ hội truyền thống trọng điểm như lễ hội Lồng Tồng, lễ hội Nàng Hai gắn liền với bảo tồn nghệ thuật hát Then, đàn Tính, đảm bảo thu hút trên 80% lực lượng thanh thiếu niên tham gia từ năm 2026 đến năm 2030, do chính quyền địa phương phối hợp với các câu lạc bộ nghệ nhân nghệ thuật dân gian điều phối.

Thứ tư, biên soạn và ấn hành bộ từ điển bách khoa văn hóa Tày. Tập trung nguồn lực xuất bản bộ công trình tra cứu văn hóa cổ truyền quy mô 1.000 trang vào quý IV/2028, do các nhà khoa học tại các trường đại học sư phạm và Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc phối hợp triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và nhân học văn hóa: Tiếp cận nguồn tư liệu ngữ liệu điền dã nguyên bản với hơn 650 đơn vị từ vựng tại vùng Cao Bằng, làm cơ sở tin cậy để so sánh, đối chiếu loại hình ngôn ngữ thuộc nhóm Tày - Thái và ngữ hệ Tai - Kađai.

Thứ hai, giảng viên đại học, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành khoa học xã hội: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về việc vận dụng lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa vào giải mã văn hóa dân gian của các tộc người thiểu số tại Việt Nam.

Thứ ba, cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc: Khai thác hệ thống phân loại 10 tiểu trường tập tục và 4 nhóm lễ hội để xây dựng hồ sơ khoa học bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và nâng cao hiệu quả các đề án văn hóa vùng cao giai đoạn 2026-2030.

Thứ tư, giáo viên giảng dạy tiếng dân tộc và các nhà biên soạn từ điển: Ứng dụng nguồn từ ngữ đã được phân tích hình thức - ngữ nghĩa để biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng mẹ đẻ và từ điển song ngữ Tày - Việt đạt chuẩn sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đóng góp khoa học nổi bật nhất của luận văn về mặt ngôn ngữ học là gì? Luận văn đã hệ thống hóa và miêu tả toàn diện 650 đơn vị từ ngữ thuộc trường tập tục và lễ hội tiếng Tày theo cả hai bình diện hình thức và ngữ nghĩa. Đây là công trình tiên phong xác lập 10 tiểu trường tập tục và 4 nhóm lễ hội, cung cấp cứ liệu ngôn ngữ học điền dã xác thực cho chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam.

  2. Tiếng Tày thuộc dòng ngôn ngữ nào và có đặc điểm loại hình ra sao? Tiếng Tày thuộc nhóm Tai trung tâm, dòng Tày - Thái, thuộc ngữ hệ Tai - Kađai. Về mặt loại hình học ngôn ngữ, tiếng Tày là ngôn ngữ đơn lập không biến hình, trong đó trật tự từ và hư từ đóng vai trò ngữ pháp trọng yếu, thể hiện rõ qua 68,5% đơn vị khảo sát có cấu tạo dạng từ ghép và đoản ngữ.

  3. Khái niệm "khoăn" và "phi" phản ánh đặc trưng văn hóa tâm linh gì của người Tày? Người Tày quan niệm thể xác song hành cùng "khoăn" (hồn vía: nam 7 vía, nữ 9 vía). Khi ốm đau, đồng bào mời thầy then, thầy tào làm lễ gọi vía. Khái niệm "phi" bao hàm cả ma, quỷ, thần thánh với hai nhánh "phi lành" và "phi dữ", chi phối hơn 46% vốn từ vựng nghi lễ đời người.

  4. Địa bàn khảo sát điền dã của đề tài được lựa chọn dựa trên tiêu chí nào? Tác giả đã lựa chọn 3 địa bàn gồm xã Đàm Thủy (huyện Trùng Khánh), xã Huy Giáp và Đình Phùng (huyện Bảo Lạc) thuộc tỉnh Cao Bằng. Đây là những vùng cao còn lưu giữ đậm nét vốn văn hóa cổ truyền thuần Tày, tạo điều kiện phỏng vấn sâu 45 nghệ nhân và thu thập ngữ liệu sách cúng chính xác.

  5. Từ ngữ chỉ lễ hội người Tày phản ánh khát vọng gì của cộng đồng nông nghiệp? Đại đa số các từ ngữ lễ hội như "hội Lồng Tồng" (hội Xuống đồng) hay "hội Lượn hai" đều hướng về mục đích cầu mùa, tôn vinh thần Nông (Sliêng Slấn) và cầu mong mưa thuận gió hòa. Hơn 56% từ vựng lễ hội tập trung biểu đạt các nghi thức tế lễ và trò chơi dân gian gắn kết làng bản.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nông Thị Thủy đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 kết luận và đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết trường từ vựng ngữ nghĩa và mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Tày.
  • Thu thập và khảo sát định lượng hơn 650 đơn vị từ ngữ, xác lập tỷ lệ 68,5% từ phức và đoản ngữ phản ánh tư duy định danh cụ thể hóa.
  • Phân loại chi tiết 10 tiểu trường tập tục và 4 nhóm lễ hội, làm nổi bật bản sắc văn hóa nông nghiệp lúa nước và tâm linh vạn vật hữu linh.
  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã quý báu tại 3 xã thuộc tỉnh Cao Bằng, phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn đại từ điển văn hóa Tày.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp bảo tồn ngôn ngữ và di sản văn hóa phi vật thể đến năm 2030.

Công trình là bước đi tiên phong mở ra hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học và nhân học văn hóa. Hãy khai thác ngay nguồn tài liệu học thuật giá trị này để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực hiện các dự án bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam.