Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở CHI LĂNG - LẠNG SƠN 1. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm về kinh tế xã hội, đời sống văn hóa và truyền thống lịch sử 1. Điều kiện tự nhiên Địa danh Chi Lăng - tên gọi về mảnh đất thiêng - vùng đất lịch sử, nơi gắn liền với công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi, gìn giữ nền độc lập, tự chủ của Quốc gia, dân tộc. “Huyện Chi Lăng nằm trọn trong vùng nhiệt đới gió mùa, có diện tích tự nhiên 704,81 km2, trong đó núi và đồi chiếm 3/4 diện tích; có nhiệt độ trung bình hằng năm 21,5o C, với lượng mưa bình quân gần 1.
Theo chu trình thời gian. gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm thường có những đợt gió Tây khô nóng, dễ gây hạn hán kéo dài. Thời gian mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm.
Do sự kiến tạo tự nhiên của vùng núi khá khép kín mà Chi Lăng ít chịu ảnh hưởng của bão. Tuy nhiên, do có nhiều triền dãy núi đá cao thẳng đứng nên cũng thường xuất hiện mưa đấ và lốc gây không ít thiệt hại cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân” [ 20, tr. Một đặc điểm nổi bật về tự nhiên của Chi Lăng là sự kiến tạo tự nhiên của vùng núi khá khép kín mà nơi đây ít chịu ảnh hưởng của bão. Tuy nhiên, do có nhiều triền dãy núi đá cao thẳng đứng nên cũng thường xuất hiện mưa đá và lốc gây không ít thiệt hại cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân.
“Nguồn nước tự nhiên ở Chi Lăng khá dồi dào. Đặc biệt có dòng sông Thương chảy từ phía Đông Bắc xuống hướng Nam huyện Chi Lăng, là nguồn nước lớn phục vụ cho canh tác sản xuất và sinh hoạt của nhân dân các dân tộc thuộc các xã Bắc Thuỷ, Nhân Lý, Mai Sao, Quang Lang, Chi Lăng, thị trấn Đồng Mỏ và thị trấn Chi Lăng. Ngoài ra ở các nơi trong huyện đều có các con suối lớn, nhỏ chảy quanh qua các triền khe, chân đồi núi, ven các bản làng, chân ruộng… Có thể khẳng định đây là nguồn nước thường xuyên vô cùng thuận lợi cho canh tác và đời sống của nhân dân các dân tộc ở từng vùng khác nhau. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rừng Chi Lăng rất phong phú về thành phần loại cây.
Vùng Chi Lăng nổi tiếng với các loại cây gỗ quý như: lim, trầm, mộc lan, nghiến, lát, hoàng đàn, cam thảo, hà thủ ô. Rừng núi Chi Lăng không chỉ bao bọc, che chở cho người dân mà còn cung cấp nguồn lương thực dồi dào và nhiều cây dược liệu quý hiếm. Yếu tố rừng khiến cho cảnh quan thêm phong phú, mặt khác cũng chính là những yếu tố, những điều kiện thuận lợi cho việc bố phòng quân sự. Dưới lòng đất ở vùng này cũng tiềm ẩn nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng và đang nhờ đôi bàn tay, khối óc con người phát hiện, khai thác, phục vụ phát tiển kinh tế - xã hội và đời sống lâu dài.
Chi Lăng một thế hiểm đặc biệt hiếm có, bởi sự cắt xẻ của các yếu tố tự nhiên đã tạo cho toàn bộ vị trí của ải Chi Lăng nằm gọn trong một thung lũng nhỏ, hình bầu dục chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, trên tả ngạn sông Thương, nằm giữa một bên là dãy núi đá vôi thành vại cao ngất ở phía Tây, còn một bên là những núi đất nối tiếp nhau trùng điệp ở phía Đông. Có thể nhận thấy: “Từ đầu phía Bắc đến đầu phía Nam thung lũng dài khoảng 4km. Từ thành núi đá phía Tây sang chân núi đất phía Đông, chỗ rộng nhất khoảng 1km, chỗ trung bình từ 200 đến 300 mét. Tại hai đầu Bắc và Nam, hai mạch núi khép nhỏ lại, tạo ra hai cửa ải rất hiểm trở.
Xung quanh chân núi Mã Yên, ngọn núi cuối cùng ở phía nam thung lũng, là một cánh đầm lầy, muốn đi qua phải bắc cầu. Kết hợp địa hình, khí hậu và thủy văn tạo thành các khe rạch chi chít và rừng cây cối gai góc, rậm rạp là một điều hết sức thuận lợi cho việc giấu quân mai phục. Đây là một yếu đại bậc nhất trên quan lộ này” [ 10, tr. Và đặc biệt, với các yếu tố tự nhiên, Chi Lăng là “một thiên thời địa lợi” đối với ta, nhưng lại là “một bất lợi” lớn đối với kẻ thù.
Núi rừng ở vùng đất này với thế hiểm độc đáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược. Nhờ nắm được đặc điểm của thế núi, thế sông với lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, ông cha ta đã đánh tan quân thù, đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Niềm tự hào về mảnh đất Chi Lăng là nguồn cảm hứng bất tận cho tác giả dân gian thuê dệt và sáng tác nên vô vàn những câu chuyện truyền thuyết vô cùng hấp dẫn và sống động. Đặc biệt với những đặc điểm về tự nhiên nhiều đá núi, suối khe… nên chúng ta thấy, nhiều những câu chuyện truyền thuyết ở Chi Lăng không gian chủ yếu là cảnh rừng núi, sông suối, hang động.
Điều này tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo riêng cho những câu chuyện truyền thuyết ở Chi Lăng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm kinh tế, xã hội Chi Lăng không chỉ được thiên nhiên ưu đãi đẹp tuyệt vời ở cảnh thiên nhiên hùng vĩ, non xanh nước biếc, tài nguyên quý hiếm mà hơn thế nữa cái đẹp, cái đáng quý hơn nữa ở Chi Lăng là những tộc người định cư sinh sống nơi đây. Họ đã góp phần làm nên lịch sử Chi Lăng, góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc cho đến ngày nay.
“Chi Lăng vốn là địa bàn quần cư lâu đời của các dân tộc anh em cùng nhau chung sống. Đồng bào Tày, Nùng định sư sớm hơn, tạo dựng làng bản tập trung, ổn định theo một dòng họ hay nhiều dòng họ bên những cánh đồng, bờ bãi thung lũng, triền sông. Đồng bào các dân tộc anh em khác sống xen kẽ, rải rác các vùng đất mới khai khẩn trên triền đồi núi, khe dọc. Đồng bào Kinh sống tập trung chủ yếu ở thị trấn, ven các trục đường Quốc lộ và đường dân sinh.
Mặc dù phong tục tập quán, ngôn ngữ và thời gian định cư sớm, muộn khác nhau, nhung đồng bào các dân tộc Tày, Nùng Kinh…. Người dân ở Chi Lăng luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, hiểu biết, tôn trọng và đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế. Mỗi khi có giặc ngoại xâm hoặc thiên tai đe dọa tàn phá, các dân tộc anh em đều đồng lòng, chung sức đánh giặc, khắc phục thiên tai, bảo vệ làng xóm quê hương, đoàn kết xây dựng cuộc sống. Đó là mạch nguồn văn hóa, đạo đức lẽ sống của đồng bào các dân tộc ở vùng đất lịch sử này.
Nhân dân các dân tộc Chi Lăng luôn luôn phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, của dân tộc quyết tâm vươn lên phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống đường giao thông đi lại, giao lưu và trao đổi hàng hóa công thương ở Chi Lăng khá thuận tiện trong tỉnh. Đặc biệt là hiện nay con đường cao tốc mới đang được xây dựng quy mô và hiện đại, dự kiến hoàn thành vào năm 2020 thuận tiện cho việc đi lại và giao lưu phát triển kinh tế thương mại - dịch vụ, vốn đã diễn ra khá sôi động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn khi Việt Nam mở cửa làm ăn, trao đổi hàng hóa, buôn bán với nước láng giềng Trung Quốc. Trục đường Quốc lộ 1A Hà Nội - Lạng Sơn đi qua Chi Lăng và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn qua ga Sông Hóa, ga Chi Lăng, ga Đồng Mỏ mở cho phép giao lưu đi lại, trao đổi vận chuyển hàng hóa nhanh chóng, thuận lợi từ Chi Lăng đi thành phố Lạng Sơn, xuôi về Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Yên, Vĩnh Phúc và các tỉnh khác trong cả nước.
“Tuyến đường Đồng Mỏ vượt Đèo Bén, Đèo Lăn qua chợ Bãi đi Tu Đồn là trục đường giao thông quan trọng trong phát triển kinh tế, nối liền nhiều xã trong huyện. Đó cũng là con đường giao thông liên huyện Chi Lăng - Văn Quan, gặp nhau tại đường Quốc lộ 1B đi các huyện Bình Gia, Bắc Sơn rồi tới Thái Nguyên. Hầu hết các xã trong huyện đều có đường dân sinh liên xã đa số đã được bê tông hóa khá thuận lợi, tỏa ra các nhánh đường nhỏ nối liền các thôn, bản, phục vụ thiết thực cho vận chuyển hàng hóa, vật tư cho sản xuất và đi lại sinh hoạt của nhân dân các dân tộc”[ 20, tr. Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, bao thế hệ lớp người Chi Lăng luôn đoàn kết gắn bó, không ngường tìm tòi, sáng tạo trong lao động sản xuất, chung sức đồng lòng, đấu tranh chế ngự thiên nhiên, biến những tiềm năng, thế mạnh của đồi rừng, sông suối, bãi bồi… phục vụ cho mục đích cuộc sống lâu dài, mở mang trồng trọt, chăn nuôi và khai thác lâm thổ sản.
Nguồn thu chủ yếu trên địa bàn huyện Chi Lăng là sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Những vùng triền đồi núi đất, nhân dân các dân tộc còn tận dụng trồng thêm. Diện tích gieo cấy lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp. Huyện Chi Lăng đang tập trung phát triển trồng na và cây na được chú trọng là cây chủ lực của huyện.
Cây na đươc trồng chủ yếu ở Thị trấn Chi Lăng, xã Chi Lăng, thị trấn Đồng Mỏ, xã Y Tịch… Trong những năm qua, quả na Chi Lăng được người dân cả nước biết đến và từng bước khẳng định được giá trị cũng như thương hiệu là cây đặc sản của vùng. Về công nghiệp, Ngày 08/10/2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1575/QĐ-UBND về việc thành lập Khu công nghiệp Đồng Bành, tỉnh Lạng Sơn. Theo đó, Khu công nghiệp đồng bành có diện tích sử dụng đất gần 322 ha, được xây dựng tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng. Thuộc Ban Quản lý Khu Kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn.